Một hình dung Quân đội không làm kinh tế nữa

Những thảo luận công khai và cởi mở xung quanh câu chuyện đất sân golf ở sân bay Tân Sơn Nhất đã gợi mở đến những vấn đề chính sách cốt lõi: đất quốc phòng nói riêng, và chủ trương quân đội có nên làm kinh tế hay không nói chung.

Phát biểu gần đây nhất của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Chiêm được báo chí trích dẫn rằng quân đội sẽ không làm kinh tế để tập trung vào phát triển nền quốc phòng chuyên nghiệp và hiện đại, đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi. Tập trung vào nhiệm vụ cốt lõi – bảo vệ Tổ quốc – không chỉ làm quân đội mạnh lên, khu vực kinh tế dân doanh trong nước rõ ràng cũng được hưởng lợi. Chủ trương trên của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng giải bài toán “dân sự hóa” doanh nghiệp quốc phòng, để một mặt nguồn lực và khối tài sản khổng lồ này phát huy được hiệu quả, đồng thời tránh thất thoát tài sản nhà nước, là vấn đề lớn cần tiếp tục được thảo luận rộng rãi.

Dân sự hóa doanh nghiệp quốc phòng như thế nào?

“Cổ phần hóa” được nhắc đến như là giải pháp để Nhà nước rút khỏi các doanh nghiệp quốc phòng. Định hướng là đúng, nhưng cách làm cần có những điểm đột phá. Trước hết, tiến trình “dân sự hóa” các doanh nghiệp quốc phòng cần tránh đi theo cách làm cổ phần hóa nửa vời, chậm trễ và làm thất thoát tài sản nhà nước như tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang vướng phải. Căn bản nhất, Chính phủ cần xác định dứt khoát rằng, nhóm doanh nghiệp nào cần Nhà nước nắm toàn bộ để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng thì giữ lại như một đơn vị quân đội. Nhóm doanh nghiệp nào không phục vụ nhiệm vụ quân sự thì cần bán lại 100% cho khu vực tư nhân.

Nhóm thứ nhất có thể là các doanh nghiệp đang sản xuất vũ khí và phát triển công nghệ quốc phòng. Với nhóm này, sắp tới không nên gắn chức năng làm kinh tế cho họ mà chỉ yêu cầu tập trung phục vụ nhu cầu quốc phòng. Điều này giúp tránh phát sinh các mâu thuẫn giữa nhiệm vụ chính trị (phục vụ quốc phòng) và nhiệm vụ kinh doanh (theo đuổi lợi nhuận và hiệu quả kinh tế) – vốn là hai nhiệm vụ không thể cùng lúc đáp ứng với một tổ chức nhà nước.

Nhóm còn lại, chiếm số lượng lớn, hiện đang sản xuất, kinh doanh như những đơn vị dân sự. Nhóm này cần bán 100% cho tư nhân, Nhà nước tuyệt đối không nên nắm cổ phần trong đó. Quan trọng hơn, không chỉ doanh nghiệp quốc phòng đang kinh doanh xây dựng, kinh doanh viễn thông, ngân hàng cần tư nhân hóa 100%, mà các doanh nghiệp cung cấp những dịch vụ phi quân sự như quân trang, tư trang cho quân nhân cũng không cần Nhà nước nắm cổ phần. Kinh nghiệm cho thấy, quân đội có thể tổ chức đấu thầu công khai để doanh nghiệp tư nhân cung cấp các dịch vụ, nhu yếu phẩm cho quân nhân, với chi phí rẻ hơn và hiệu quả hơn rất nhiều so với doanh nghiệp quốc phòng.

Trong nhóm thứ hai này, để tiến trình bán tài sản diễn ra nhanh mà không thất thoát, cần phân loại doanh nghiệp thành hai nhóm nhỏ, dựa trên tiêu chí là hiệu quả hoạt động để có phương án xử lý hợp lý. Nhóm một là các doanh nghiệp đang thua lỗ, hoạt động không hiệu quả và khó thu hút tư nhân mua lại. Nhà nước cần kiên quyết giải thể những doanh nghiệp này. Tài sản cố định còn lại có thể bán thanh lý. Riêng đất đai – là tài sản có giá trị lớn nhất, sau khi giải thể doanh nghiệp, Quốc hội cần yêu cầu Bộ Quốc phòng trả lại cho chính quyền địa phương. Hội đồng nhân dân địa phương sẽ quyết định sử dụng đất đai này như thế nào: tiến hành bán đấu giá quyền sử dụng đất và thu tiền về ngân sách địa phương; hoặc sử dụng đất đai đó cho các mục đích xã hội, công cộng phục vụ người dân địa phương.

Cần một nghị quyết hướng dẫn từ Quốc hội

Để làm được điều này, Quốc hội cần có một nghị quyết để xác lập quan điểm và nguyên tắc hướng dẫn cho toàn bộ tiến trình này. Theo đó, nghị quyết có thể xác lập những nội dung chủ yếu:

Thứ nhất, xác lập quan điểm ủng hộ của Quốc hội với việc quân đội không làm kinh tế; và các nguyên tắc, lộ trình cho việc xử lý tài sản nhà nước còn do doanh nghiệp quốc phòng nắm giữ.

Thứ hai, Quốc hội cần yêu cầu Chính phủ tiến hành kiểm toán, đánh giá lại toàn bộ tài sản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng. Quan trọng nhất trong hoạt động này là rà soát và tổng kiểm kê lại quỹ đất mà các doanh nghiệp này đang nắm giữ.

Thứ ba, hướng dẫn Chính phủ xử lý tài sản nhà nước trong doanh nghiệp quốc phòng thông qua tư nhân hóa và bán tài sản theo các nguyên tắc thảo luận như trên.

Chấm dứt vai trò làm kinh tế của lực lượng quốc phòng là chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Song song với chấm dứt vai trò kinh tế của doanh nghiệp quốc phòng, cũng cần tiến tới chấm dứt vai trò làm kinh tế của lực lượng an ninh. Giải được bài toán xử lý tài sản của doanh nghiệp quốc phòng cũng chính là tìm được lời giải cho bài toán hoàn toàn tương tự với doanh nghiệp của lực lượng an ninh. Hy vọng rằng, Quốc hội, trong không khí thảo luận cởi mở và minh bạch như hiện nay, sẽ tiếp tục đánh giá và tiếp thu các khuyến nghị hợp lý nhằm thực hiện tốt chủ trương xác đáng này.

Vụ Uber/Grab: 8 điều nhắn với ông Dương Trung Quốc

3 điều mình rút ra trong những lần đi taxi và tranh thủ hỏi chuyện các bác tài, kể cả taxi ‘truyền thống’, lẫn Uber/Grab (1) Đối với taxi truyền thống, không phải mọi xe đều là xe hãng sở hữu, một phần lớn là cá nhân mua xe, góp vào hãng để tham gia chạy taxi (2) Xe uber/grab: tỷ lệ người mua xe để chạy Uber chuyên nghiệp là nhiều – chứ không phải xe riêng, lúc rảnh rỗi, mới làm cuốc kiếm thêm. (3) hầu hết lái xe quyết định mua xe, tham gia chạy xe căn cứ trên thông tin từ bạn bè lái taxi. Những điều này hàm ý gì?

Thứ nhất, thị trường taxi thừa cung – một phần vì số lượng người mua xe để chạy uber tăng vọt. Điều này có lẽ khác với các nước phương tây, nơi ‘cung’ chỉ đến thêm từ người mang xe sẵn có tham gia chạy thêm, chứ ko phải là chạy ‘chuyên nghiệp’, làm nghề dưới hình thức uber.

Thứ 2, chi phí vận hành của taxi truyền thống phát sinh từ các quy định hành chính bắt buộc là đáng kể: ví dụ: xe đồng bộ màu sơn; xe phải có mào (đèn trên đầu xe); phải lắp đồng hồ tính cước; phải có máy in biên lai, không được đi vào một số tuyến đường, trong một số khung giờ; … cộng thêm ‘tiền đàm’ – tổng đài tiếp nhận – báo tin. Trung bình, nếu là xe nhà hợp đồng với hãng, phải đóng cho hãng khoảng 5 triệu/tháng. Trong khi đó, chạy grab/uber – nhờ lợi thế công nghệ – quản lý, giảm được hầu hết phí tổn. ăn chia uber/xe là 80/20.

Như vậy: thừa cung + cộng với chi phí hoạt động uber/grab thấp hơn hẳn – khiến giá càng giảm và thị trường càng cạnh tranh gay gắt hơn.

8 điều rút ra:

  • Nếu ông Dương Trung Quốc thật sự ‘thương’ người lao động, muốn bảo vệ họ: cách tốt nhất là khuyến nghị quốc hội thừa nhận Uber. Bởi một số lượng lớn lái xe là mang xe nhà ra góp vào hãng. Không chạy cho hãng, họ rút xe khỏi hãng, chạy uber/grab – họ vẫn có lợi hơn. Vì giá rẻ, dân đi nhiều, đương nhiên họ có nhiều việc làm.
  • Ai đang bóp cổ Taxi truyền thống? Các quy định pháp lý: (vài ví dụ tiêu biểu nhất: xe taxi ở HN chỉ đc chạy 8 năm; Dn có 50 trở lên mới được tham gia thị trường,…) mới là ‘vòng kim cô’ bóp chết taxi truyền thống – khiến chi phí để tuân thủ quy định, chi phí phong bì tăng cao. Nếu ông Quốc thực sự có ‘tâm’, hãy gỡ hết những vòng kim cô này cho DN.
  • Ông Quốc nên truy trách nhiệm của Bộ Giao thông vận tải – Bộ Công thương trong việc cung cấp thông tin cho người dân. Đành rằng kinh tế thị trường – dân thiếu hiểu biết là dân phải chết; nhưng sinh ra các bộ này: các ông hiểu thế giới đang đi như thế nào; hiểu được dân chạy theo mua xe là thị trường thừa cung – sẽ rủi ro cho người dân. Cần lên tiếng cảnh báo họ, cung cấp thông tin cho họ. Đường này, người mua xe kinh doanh vẫn quyết định theo thông tin ‘truyền tai’.
  • Bộ mà càng kéo dài kiểu ‘thử nghiệm’ – ‘cấm’ như thế này, rủi ro chính sách với người kinh doanh xe – cả nhỏ lẽ – lẫn hãng càng cao và chi phí cả xã hội càng lớn. Suy cho cùng, dân chết, phần lớn có lỗi từ kiểu chính sách nhập nhằng: dân nhận ra rằng, Grab/Uber là cơ hội kinh doanh của mình nên nắm lấy; – Nhà nước nắm trong tay quyền ‘cho làm’ – ‘không cho làm’ – lại nhùng nhằng. Đừng nói các ông không biết: thế giới đã tranh cãi pháp lý Uber từ hơn 5 năm trước, đã giải bài toán pháp lý đó rồi.
  • Không biết có phải Bộ Giao thông cố tình ‘câu giờ’ – để chờ Mcar của Mai Linh, V-car của VinaSun kịp lớn? bảo hộ kiểu này, từ kinh nghiệm lịch sử cho thấy chưa bao giờ thành công. Nếu thật sự muốn ‘bảo vệ doanh nghiệp’ Việt, hãy để họ cạnh tranh công bằng. DN được lợi, dân cũng được lợi. Chiêu bài: ‘bảo vệ DN việt”, đồng thời nhận phong bì ‘lobby’ chỉ béo quan chức các bộ, còn lại toàn dân chịu thiệt thôi.
  • Thuế giữa Uber/Grab với taxi truyền thống là công bằng. Số liệu thuế chứng minh rồi, không phải tranh cãi. (xem thêm bài của mình trên Tuổi trẻ cuối tuần).
  • Giải quyết được bài toán Uber/Grab – là giải quyết được bài toán Airbnb và các hình thức kinh doanh mới của kinh tế chia sẻ. Chuyện này mà không làm được, đừng nói cách mạng 4.0, kinh tế chia sẻ, nhà nước kiến tạo làm gì.
  • Nếu không có tòa án độc lập, chất lượng – thì quyền lợi của dân, của DN vẫn luôn bị ‘chính sách’ xâm phạm bất kỳ lúc nào. Doanh nghiệp có ức nghẹn cổ – như Uber năm lần bảy lượt bị từ chối ‘đề án thí điểm’ – cũng ngậm đắng nuốt cay mà thôi. Có quyền là lạm quyền. Quyền hành chính (ở đây là của bộ Giao thông), nếu không bị tòa kiểm soát, đối trọng, thì còn tha hồ lạm quyền.

Không thể cứ mãi quay lưng với cái mới

Ngày nay, ai cũng biết những cỗ máy chạy bằng động cơ hơi nước đã mở ra cánh cửa của cuộc cách mạng công nghiệp, đưa thế giới bước vào thời hiện đại, với mức độ phát triển cao chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, bước chuyển đó không đơn giản.

Ở Anh, những năm đầu thế kỷ 19, khi những chiếc máy dệt chạy bằng hơi nước được đưa vào sử dụng, đã xảy ra hàng loạt cuộc nổi loạn, thậm chí đập phá những chiếc máy mới này. Nguyên do là những cỗ máy có năng suất làm việc cao hơn hẳn đã “cướp việc” của công nhân vốn vẫn làm việc bằng tay. Khi quyền lợi và cuộc sống bị đe dọa, công nhân đã phản đối bằng cách nổi loạn và đập phá máy móc.

Thật may mắn cho người Anh, chính quyền lúc đó đã không quay lưng lại với những phát minh và cấm đoán những cỗ máy này. Thời gian đã chứng minh, đó là lựa chọn sáng suốt. Bởi cuối cùng, những tiến bộ từ khoa học và công nghệ, đi cùng những tiến bộ về thể chế chính trị, không chỉ mang lại sự giàu có cho giới chủ, mà từng bước đồng thời nâng cao thu nhập và phúc lợi của người làm công. Người dân, cuối cùng vẫn có thể chia sẻ thành quả kinh tế mang lại bởi những tiến bộ về công nghệ và các thay đổi thể chế theo hướng dân chủ và công bằng.

Nhắc lại chuyện cũ để thấy rằng thái độ quay lưng với những bước đi tiến bộ trong kinh doanh, trong phát minh công nghệ của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT), qua hành động từ chối dịch vụ đi xe chung Grabshare và Uber Pool, là rất khó hiểu. Những viện dẫn bằng căn cứ pháp lý rằng, luật pháp Việt Nam chưa cho phép kinh doanh loại hình này mà bộ này đưa ra lại càng trở nên phản cảm.

Thứ nhất, kinh tế chia sẻ đã không còn là khái niệm mới mẻ, không chỉ với thế giới mà ngay cả ở Việt Nam. Sau những lúng túng ban đầu, nhiều quốc gia đã điều chỉnh các quy định pháp lý về kinh doanh, không chỉ để đón nhận, mà còn khuyến khích xu hướng kinh tế này.

Các ngành kinh doanh, trước nhất là kinh doanh vận tải, kinh doanh lưu trú (khách sạn, phòng nghỉ) đã và đang thay đổi sâu sắc trước các xu hướng này. Bởi vậy, Bộ GTVT không thể nói họ “không nghe, không biết” – với những chuyển động mới của cuộc sống, của nền kinh tế vốn đã diễn ra hơn năm năm qua. Với nhiệm vụ của những người quản lý, điều tiết thị trường, họ đã làm gì trong suốt thời gian đó? Để rồi, khi doanh nghiệp giới thiệu dịch vụ – một hình thức kinh doanh mới có lợi cho người tiêu dùng, cho nền kinh tế, bền vững cho môi trường lại quay sang bao biện: chưa có khuôn khổ pháp lý.

Nên nhớ, quyền tạo ra “luật chơi” là trong tay họ, là chức năng công việc của họ. Một tổ chức công quyền như Bộ GTVT được lập ra để làm những việc đó, và người dân đóng thuế cho họ chính là để họ làm những công việc đó. Vì vậy, lập luận rằng hình thức kinh doanh “đi chung xe” là không được phép làm, vì rằng nó không phù hợp với khuôn khổ quy định hiện hành, là hoàn toàn khiên cưỡng, nếu không muốn nói là vô trách nhiệm.

Thứ hai, kể cả “sự chậm trễ” là có lý do, nhằm giúp cho các doanh nghiệp trong nước kịp phát triển các dịch vụ tương tự, thì đó cũng phải là chiến lược khôn ngoan. Cạnh tranh, từ lâu đã được thừa nhận là động lực phát triển của kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp trong nước, một khi muốn phát triển, cần phải đặt họ trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài khác. Mọi hình thức bảo hộ từ nhà nước, cho dù bằng các rào cản kỹ thuật, như kinh nghiệm cho thấy đều không phải là giải pháp hiệu quả. Lợi chưa thấy đâu, nhưng rủi ro thiệt hại kép là rất rõ. Đó là, do được bảo hộ, doanh nghiệp sẽ không chịu lớn và người tiêu dùng phải chịu thiệt hại trực tiếp do không được tiếp cận các dịch vụ có giá rẻ hơn.

Có thể nói, bất kể vì lý do gì đi chăng nữa, việc Bộ GTVT cố tình ngăn cản các dịch vụ mới của Grab, Uber đều là thái độ khó có thể được người dân chấp nhận. Trong khi Chính phủ liên tục hô hào tinh thần kiến tạo, thúc đẩy khởi nghiệp, đón đầu cách mạng công nghiệp 4.0, cách hành xử quay lưng với cái mới, cái tiến bộ của Bộ GTVT cho thấy thách thức lớn cho Chính phủ trong việc lấp đầy khoảng cách từ lời nói đến hành động của các cơ quan công quyền.

Bài đã đăng TBKTSG:

http://www.thesaigontimes.vn/162188/Khong-the-cu-mai-quay-lung-voi-cai-moi.html

2016, “thiên nga đen” và đổi mới chính sách

Trong nhiều năm trở lại đây, nếu phải chọn một năm với nhiều sự kiện “thiên nga đen” nhất chắc hẳn nhiều người sẽ chọn năm 2016.

“Thiên nga đen” (Black swan) là thuật ngữ do Nassim Taleb khởi xướng, được sử dụng rộng rãi trước nhất trong thị trường tài chính, hàm ý chỉ những sự kiện có tác động lớn nhưng lại xuất hiện một cách bất ngờ và gần như không dự báo được.

Thời điểm này một năm về trước, khi quả cầu đón năm mới trên quảng trường Thời đại rơi xuống, có lẽ số ít người Mỹ nghĩ rằng vị tổng thống được chọn ra trong năm 2016 lại là ông Donald Trump. Và bên kia bờ Đại Tây Dương, trong màn pháo hoa rực rỡ trên sông Thame, người Anh và châu Âu nói chung ít ai biết rằng, chỉ năm tháng nữa thôi, số đông cử tri Anh sẽ chọn lựa rời bỏ châu Âu.

Cũng thời điểm ấy, người Việt, bước vào năm 2016 trong dư âm hân hoan của việc Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vừa được ký kết, đang chờ đợi một kịch bản tươi sáng hơn cho nền kinh tế vốn ít nhiều kém khởi sắc trong suốt quãng thời gian dài vừa qua. Chắc chắn rằng, không nhiều người bi quan và sẵn sàng tâm thế cho một loạt những biến cố đang chờ đợi.

Tháng 4, sự cố môi trường biển do Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ra làm bốn tỉnh miền Trung điêu đứng. Những lo ngại về an toàn thực phẩm trong những tháng đầu năm 2016 lên đến đỉnh điểm. Thực phẩm bẩn, vốn đã ám ảnh bữa ăn người Việt suốt thời gian dài vừa qua, thực sự trở thành một cuộc khủng hoảng. Chưa hết, năm 2016 cũng là năm chứng kiến những đợt thiên tai khốc liệt nhất trong nhiều năm trở lại đây. Đầu năm, hạn mặn lên đến đỉnh điểm kéo dài ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Cuối năm, lũ lụt ở Nam Trung bộ gây thiệt hại lớn cả về sinh mạng con người lẫn vật chất.

Dù năm 2016 không phải là không có những điểm sáng, đơn cử là làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ trong giới trẻ, là quyết tâm hành động của Chính phủ mới nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, nhưng tổng thể, 2016 vẫn là một bức tranh với đa phần mảng màu kém tươi sáng và nổi bật trên đó là những “sự kiện thiên nga đen”.

Từ “thiên nga đen’ đến những “nan đề phức hợp” và đổi mới chính sách

Năm 2017, áp lực cải cách càng lớn hơn với Chính phủ sau những hệ quả của các “thiên nga đen” năm cũ. Kinh nghiệm, các bài học và mô hình cải cách từ bản thân Việt Nam lẫn các nước đi trước, rõ ràng là không thiếu, vấn đề còn lại vẫn là lựa chọn của chính chúng ta.

Không phải đến bây giờ, tính bất định mới được thừa nhận. Trong các khoa học tự nhiên, sự xác tín vào những hiểu biết mang tính chắc chắn, niềm tin vào tính xác định của thế giới vật chất, từ lâu đã nhường chỗ cho sự thừa nhận về tính bất định. Bất chấp sự tăng tiến chóng mặt của các khám phá công nghệ mới và khối lượng tri thức khổng lồ tích lũy được, nhiều hiện tượng là không thể dự báo. Điều đó rõ ràng cũng đúng trong đời sống xã hội. Các sự kiện “thiên nga đen” – những cuộc khủng hoảng lớn, luôn có chỗ đứng của nó, bất chấp các nỗ lực dự báo của giới chuyên môn.

Nhưng nói thế không phải là đầu hàng “thiên nga đen”. Dự báo “thiên nga đen” luôn là vấn đề tranh cãi. Nhưng nỗ lực tìm hiểu về nó cho phép đi đến một nhận thức được thống nhất cao, rằng đối với “thiên nga đen’’, trọng tâm không phải là sự kiện gì sẽ đến vào lúc nào. Quan trọng hơn là nhận diện sớm các rủi ro để có những chiến lược ứng phó và thích nghi hữu hiệu. Nói cách khác, dù thời điểm xảy ra sự kiện là không thể dự báo, nhưng mọi sự kiện đều cần đến những yếu tố tiền đề và môi trường cho nó xảy ra. Và đó là những yếu tố có thể xác định được. Xác định các yếu tố rủi ro, nghĩa là có thể có các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp.

Một thuật ngữ gần đây đang được sử dụng thường xuyên hơn để mô tả những loại vấn đề chính sách này, đó là “wicked problem” (tạm dịch “nan đề mang tính phức hợp”). Đặc điểm chính của các “nan đề” loại này là tính khó định dạng của vấn đề, mối quan hệ “nhân” – “quả” phức tạp liên quan đến nhiều nhóm đối tượng, liên tục tương tác và biến đổi. Các “nan đề” này gần như không giải quyết được hoàn toàn mà can thiệp chính sách chỉ có thể giảm tác động xấu của nó. Nghèo đói, bất bình đẳng thu nhập, quản lý tài nguyên chung… có thể xem là những “nan đề” tiêu biểu.

Trở lại với Việt Nam, những “sự kiện thiên nga đen” và “các nan đề phức hợp” thể hiện rất rõ. Đơn cử, sự cố Formosa, với một quy mô toàn khu vực như vậy, có thể là vượt ngưỡng dự báo. Nhưng những yếu tố rủi ro đã xuất hiện từ trước đó: từ quy hoạch môi trường, giám sát tuân thủ thực thi các tiêu chuẩn xả thải; năng lực ứng phó khi có thảm họa… Sự cố chỉ là “điểm bùng phát” của một loạt diễn tiến. Nhưng sự cộng hưởng của các rủi ro thành phần, rốt cuộc đẩy rủi ro hệ thống vượt mọi ngưỡng tiên liệu và vượt xa khả năng hiện có để ứng phó.

Những phân tích tương tự có thể thấy trong trường hợp hạn mặn ở ĐBSCL. Mức độ khốc liệt của El Nino đúng là cực đại trong hơn trăm năm qua. Nhưng những yếu tố rủi ro khác đã được nhận biết trước đó: các đập thủy điện dày đặc trên khắp lưu vực sông Mêkông làm sụt giảm lượng nước vốn đã ít ỏi; mạng lưới đê bao, cống ngăn mặn, thoát lũ vốn đã được quy hoạch không hợp lý; cách thức canh tác và tổ chức dân cư… Tất cả cộng hưởng và tương tác với El Nino để gây ra thiên tai nghiêm trọng vượt quá khả năng ứng phó của hệ thống hiện tại.

“Thiên nga đen”, và rộng hơn các “nan đề phức hợp”, như vụ ô nhiễm môi trường biển do Formosa Hà Tĩnh gây ra, như thực phẩm bẩn, khi sự kiện đi qua, nhìn lại có thể giải thích khá rõ ràng, kể cả chỉ ra các yếu tố rủi ro. Vì vậy điều quan trọng vẫn là nhận diện từng yếu tố rủi ro, và quản trị, xử lý từng yếu tố trong hệ thống, chứ không đợi đến khi các rủi ro tương tác và bùng phát.

Nhưng nói đi vẫn phải nói lại, lý thuyết là vậy, song thực tế là không đơn giản. Bởi lẽ, thứ nhất, nhận diện các yếu tố đang “ẩn”, tích tụ và diễn tiến là điều không dễ. Thứ hai, hệ thống nhà nước vốn thường được thiết kế để “giải quyết” khi vấn đề đã xảy ra chứ ít khi vì mục đích ngăn ngừa rủi ro có thể đến.

“Think- tank” trong đổi mới chính sách và giải quyết các “nan đề phức hợp” ở Việt Nam

Nghiên cứu lý thuyết lẫn kinh nghiệm thực tiễn các quốc gia khác đều khá thống nhất rằng “đổi mới chính sách” (policy innovation) được xem là cách thức tốt để các chính phủ ứng phó với các “nan đề phức hợp”.
Việc nhận diện các nan đề phức hợp cần có tri thức tổng hợp về nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, mô hình tổ chức các bộ ngành phân mảnh như hiện nay đã làm hạn chế đáng kể năng lực phân tích và nhận diện các vấn đề chính sách vốn liên ngành – đa lĩnh vực. Mỗi bộ, ngành, tuy có đầy đủ các viện nghiên cứu chiến lược phát triển ngành (thậm chí có những bộ có vài ba viện), nhưng năng lực phân tích và tư vấn chính sách của các viện này phần lớn là hạn chế. Quan trọng hơn, các viện bị “phân mảnh” nhiều, trong khi Chính phủ lại thiếu các nhóm chiến lược có khả năng tư duy vấn đề phức hợp và liên ngành.

Những giải pháp chính sách chắp vá và thiếu hiệu quả trên nhiều vấn đề lớn hiện nay thể hiện rõ thực trạng đó. Đơn cử, những vấn đề nóng về lương tối thiểu, về tuổi nghỉ hưu và hưởng bảo hiểm xã hội… đang bị tư duy phân mảnh trong lĩnh vực chức năng của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Trong khi đó, vấn đề phức tạp này khó có thể giải quyết nếu không tiếp cận tổng thể về hệ thống an sinh xã hội và tiếp cận dịch vụ công – một lĩnh vực liên quan đến hàng loạt các bộ, ngành khác trong Chính phủ và nhiều chủ thể khác ở khu vực tư. Hay vấn đề ứng phó với hạn mặn, biến đổi khí hậu ở ĐBSCL, nỗ lực riêng lẻ của từng tỉnh đang làm suy giảm hiệu quả khi thiếu tiếp cận tổng thể toàn vùng.

Trong ngắn hạn, một giải pháp có thể tham khảo từ các quốc gia khác, đó là tận dụng nguồn lực tư vấn chính sách từ các nhóm nghiên cứu và tư vấn chiến lược – tức các “think-tank” độc lập. Think-tank tự nó không phải là giải pháp, nhưng think-tank với khả năng ứng dụng tri thức từ nghiên cứu học thuật, với hiểu biết thực tiễn, cộng với nhạy cảm về chính trị và hiểu biết về thể chế hiện hành, có thể đóng góp hiệu quả vào việc đề xuất những giải pháp chính sách khả thi.

Thủ tướng Chính phủ, trong những ngày cuối năm, vừa có cuộc gặp tham vấn với các trí thức và chuyên gia trong mạng lưới phát triển toàn cầu ở Việt Nam. Động thái đó là tích cực, nhưng để không mang tính hình thức và có thể phát huy hiệu quả thực sự, cần những động thái xa hơn và căn bản hơn: lãnh đạo Chính phủ cần có những nhóm chuyên gia tư vấn trong những nhóm vấn đề cụ thể. Nhóm “task force” (tổ công tác) này sẽ sát cánh cùng Chính phủ để làm việc dài hơi với những chủ đề và nhiệm vụ lớn được giao phó. Các “task-force” về cải cách thiết chế thị trường; đất đai và các vấn đề sở hữu; cải cách hành chính và quản trị địa phương, hiện đại hóa hệ thống tư pháp… nếu được tổ chức hợp lý, có thể nhanh chóng giúp Chính phủ bù đắp những thiếu hụt về năng lực kỹ thuật làm nền tảng cho những đổi mới chính sách căn bản.

Những khoảng cách thu nhập

Mức độ bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm người dân đang gia tăng đến mức đáng lo ngại.

Hơn tháng một lần, tôi thường ghé tiệm cắt tóc quen gần nhà. Gọi là tiệm, nhưng thực ra chỉ có một cái ghế gỗ cho khách ngồi và một tấm ván bắt vào tường, nằm nhờ ngay mái hiên “lấn” ra phía cuối con ngõ. Anh thợ cạo quê ở Nam Định, lên Hà Nội mở tiệm cắt tóc đã vài năm nay. Vợ anh mở hàng nước chè ngay bên cạnh. Hai đứa con anh để lại quê với ông bà nội, đứa lớn học cấp hai, đứa bé còn tiểu học. Vợ chồng anh rất muốn, nhưng không thể đưa con lên Hà Nội, bởi đơn giản, với thu nhập chỉ khoảng 6-8 triệu đồng/tháng của cả hai vợ chồng, việc nuôi nấng, rồi cho hai con học trường tư ở đây là điều không thể. Còn trường công thì đương nhiên là không được, vì anh không có hộ khẩu cũng không có thường trú dài hạn tại đây.

Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội đầu tháng này công bố thu nhập bình quân đầu người của người dân Thủ đô là 70 triệu đồng/năm, tăng 1,8 lần, tức gần gấp đôi so với cách đây năm năm. Thật khó biết, phần đóng góp của anh thợ cắt tóc ấy và vợ anh được “tính” cho GRDP của tỉnh nào. Hà Nội, nơi anh sống và làm việc gần năm năm nay, hay Nam Định, nơi anh chỉ còn cái “hộ khẩu”?

Thực ra điều đó cũng không hẳn quan trọng. Tuy không biết anh “được chia” bởi địa phương nào thì anh vẫn là người Việt Nam. Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội mới đây cho biết, thu nhập bình quân đầu người của người dân Việt Nam vẫn tăng mạnh trong năm năm qua, ở mức khoảng 49,4 triệu đồng/năm, gấp đôi so với năm 2010. Dù là so sánh với người dân Thủ đô, hay người dân cả nước, nhìn vào “cơ ngơi” không hề thay đổi suốt cả năm năm qua của vợ chồng anh, không khó để nhận ra, những người như anh đang dần bị bỏ lại đằng sau so với đà tiến chung của xã hội.

Con số tăng gấp đôi GDP bình quân đầu người theo báo cáo chưa hẳn là “điểm sáng”, nếu nhìn sâu vào đằng sau nó.

Thống kê từ nguồn điều tra lao động của Ngân hàng Thế giới cho biết năm 2014, trong toàn bộ lực lượng 52,6 triệu lao động của Việt Nam, có 22,5 triệu (chiếm 43%) lao động nông nghiệp, 18,7 triệu (chiếm 36%) lao động làm công ăn lương và 11 triệu (chiếm 21%) tự doanh trong khu vực phi nông nghiệp. Về lý thuyết, hai vợ chồng anh thợ cắt tóc sẽ nằm trong con số 11 triệu người kia. Và chắc chắn, hai vợ chồng anh không quay về làm nông là lựa chọn hợp lý. Bởi trong suốt ba mươi năm từ ngày đổi mới, nông nghiệp, dù được “phong” là bệ đỡ, là tấm đệm của mọi khủng hoảng và suy giảm kinh tế, vẫn là khu vực tăng trưởng chậm nhất. Tệ hơn nữa, trong năm năm qua, tốc độ tăng trưởng của khu vực này còn tiếp tục “giảm dần đều” khi trung bình giai đoạn 2011-2014, tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng 3,3 % và chín tháng đầu năm 2015 còn 2,08%(1). Chiếm gần phân nửa lực lượng lao động, trong khi tốc độ tăng trưởng ngày càng giảm sút, không khó để nhận ra, thu nhập, và theo đó là mức sống của khu vực nông thôn đã tụt lại như thế nào so với đà tăng chung của cả nước.

Vì thế, con số tăng gấp đôi GDP bình quân đầu người theo báo cáo, chưa hẳn là “điểm sáng” nếu nhìn sâu vào đằng sau con số đó. Một mặt, từ năm năm trở lại đây, GDP (tổng sản phẩm quốc nội) đã không còn phản ánh chính xác “miếng bánh” người Việt Nam làm ra. Chi trả sở hữu (tức phần GDP của người nước ngoài) và chi trả nợ nước ngoài đang tăng chóng mặt theo từng năm, làm cho GNI (tổng thu nhập quốc dân), tức là “tiền tươi thóc thật” chúng ta kiếm được, teo tóp đi tương ứng. Một mặt khác, trong miếng bánh đang teo tóp đó, phần phân chia cho các nhóm dân cư khác nhau chắc chắn không thể đồng đều như nhau.

Phần chuyên đề về “Bất bình đẳng” trong Báo cáo cập nhật về phát triển kinh tế Việt Nam 2014 của Ngân hàng Thế giới chỉ rõ mức độ bất bình đẳng đang gia tăng đến mức đáng lo ngại trong thu nhập của các nhóm người dân.

Nhìn vào đồ thị so sánh mức tăng thu nhập giữa 40% dân số nhóm dưới, và 60% dân số thuộc nhóm trên, có thể nhận thấy khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm đang giãn rộng ra đến thế nào.
Điều này càng được khẳng định bằng số xe siêu sang, xe sang nhập về Việt Nam đã không ngừng tăng thêm, kể cả trong những thời điểm nền kinh tế được xem là khó khăn nhất.

Trong khi đó, thu nhập của nhóm nghèo hơn không chỉ tăng chậm hơn, mức sống của họ tiếp tục bị bào mòn bởi tốc độ tăng giá của hàng hóa chi tiêu căn bản. Thực phẩm, năng lượng, chi phí cho nhà ở, cho giáo dục và y tế là những khoản chi tiêu lớn chiếm gần như toàn bộ chi phí cuộc sống của một gia đình trong nhóm dưới. Tuy nhiên, nhìn vào rổ giá cả, chúng ta đang thấy gì? Giá dầu thế giới lao dốc trong suốt hơn một năm qua, nhưng giá xăng trong nước giảm không tương xứng. Giá điện năm 2015 bình quân đã tăng 7,5%. Học phí bậc đại học đã tăng, kế đến học phí bậc phổ thông cũng sẽ tăng từ đầu năm 2016. Phí bảo hiểm y tế cho học sinh phổ thông đã tăng, còn viện phí, với 1.800 loại dịch vụ y tế, chuẩn bị tăng ngay trong năm 2015 này.

Cuộc tranh cãi giằng co về lương tối thiểu đã kéo mức lương tối thiểu vùng tăng bình quân thêm 12,4%. Tuy nhiên, đừng quên rằng, thực sự chỉ có 5,9 triệu lao động ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước, trong tổng số 11,3 triệu lao động làm công ăn lương có hợp đồng lao động chính thức, là có tiềm năng được tăng lương “trên lý thuyết”. Nói là lý thuyết, bởi trên thực tế, có không ít bằng chứng chỉ ra rằng tăng lương tối thiểu không làm tăng thu nhập thực tế của công nhân nhưng lại làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp, thực ra chỉ có quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ công đoàn là được lợi. Trong khi đó, nhìn rộng ra cả nền kinh tế, theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, có đến 78% số lao động đang không tham gia vào bất kỳ hình thức bảo hiểm xã hội nào. Điều đó có nghĩa là họ luôn đứng trước rủi ro kép, trước mắt là những cú sốc tăng giá từ các chi phí cuộc sống cơ bản và dài hạn là rủi ro không có bệ đỡ từ mạng lưới an sinh xã hội chính thức nào.

Vài lần tôi hỏi vợ chồng anh thợ cắt tóc, anh sẽ đưa hai đứa con lên thành phố hay sẽ trở về với đồng chiêm Nam Định. Lần gần nhất, anh nói có thể anh sẽ vào miền Nam, hoặc ra ngoại thành để vào làm công nhân trong một nhà máy nào đó. Nhưng lựa chọn nào cũng sẽ chẳng dễ dàng với anh. Tôi không biết Nam Định đã đặt mục tiêu GRDP bình quân đầu người là bao nhiêu cho năm 2020, nhưng với Thủ đô, vào năm mà đất nước cơ bản sẽ trở thành nước công nghiệp, thu nhập bình quân người Hà Nội sẽ gấp đôi hiện nay, ở mức 140-145 triệu đồng/năm. Đến lúc đó, hàng cắt tóc và quán nước nhỏ của vợ chồng anh sẽ về đâu?

“Chính sách trên trời, cuộc đời dưới đất”

Một lần đứng chờ xe buýt, tôi tranh thủ bắt chuyện với một anh xe chạy ôm đang chờ khách. Anh cũng chỉ mới chạy xe được bốn tháng, còn trước đó anh vốn là công nhân cho một công ty sản xuất thiết bị vệ sinh. Công ty phá sản, mười hai công nhân như anh mất việc, bốn tháng lương còn bị nợ không có cách nào đòi được. Sau mấy tháng tìm không ra việc trong các nhà máy, anh đành quay sang chạy xe. Đang quan tâm đến chuyện bảo hiểm cho người lao động sau những tranh cãi xoay quanh điều 60, luật Bảo hiểm xã hội mới cách nay mấy tháng, tôi tranh thủ hỏi xem chuyện bảo hiểm của anh thế nào. Anh bảo mình còn …may mắn hơn số đông các anh em khác, vì rút được bảo hiểm xã hội 1 lần. 2 năm đóng bảo hiểm xã hội, mỗi năm được nửa tháng lương, tổng cộng được 6 triệu đồng. Còn bảo hiểm thất nghiệp thì chịu, vì công ty phá sản, không ai xác thực thủ tục giấy tờ để làm được bảo hiểm thất nghiệp. Và quả thực anh cũng… may mắn thật, vì nếu Quốc hội không dừng thực hiện điều 60 của Luật bảo hiểm 2014, những người như anh sẽ không đủ điều kiện để rút một lần 6 triệu đồng. Số tiền tuy nhỏ, biết rút ra thiệt nhiều hơn lợi nhưng vẫn phải rút, vì cấp bách quá không biết xoay ở đâu. Tôi hỏi anh biết chuyện đó không, anh lắc đầu, “chính sách là chuyện mấy ông ở trên, đâu tới được những người như bọn anh”.

Tôi lại nhớ một nghiên cứu gần đây của Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam- VCCI, nói rằng gần 80% doanh nghiệp chưa từng được hỏi ý kiến về các dự thảo pháp luật. Nhưng bạn đừng ngạc nhiên, rằng anh xe ôm vốn là công nhân thất nghiệp và doanh nhân, với nguồn lực hơn hẳn, lại chẳng khác gì nhau trong cậu chuyện tham gia vào những chính sách ảnh hưởng đến ‘cơm áo gạo tiền’ của chính mình. Bởi lẽ đơn giản là về mặt kỹ thuật, những người làm chính sách không thể với tới được ý kiến riêng lẻ của cả hàng triệu người, hàng tram nghìn doanh nghiệp khác nhau. Mặt khác, về phía người dân và doanh nghiệp, một năm riêng các bộ ban ngành trung ương ban hành đến hơn 1000 văn bản, thời gian đâu, nguồn lực đâu để theo dõi, để biết và góp ý.

Vì thế, các hội đoàn được sinh ra để làm việc đó. Với doanh nghiệp, họ bỏ ra vài triệu một năm để đóng phí hội viên, ‘góp gạo’ để nuôi những hội, hiệp hội ngành nghề. Hội đó là tổ chức hoạt động chuyên nghiệp, đóng vai trò là kênh giao tiếp giữa các thành viên với nhà nước và bảo vệ lợi ích cho những hội viên đóng tiền nuôi mình. Nhà nước dự kiến ra một chính sách đụng chạm đến ‘nhà’ mình, họ là người đầu tiên phải ‘báo’ cho ‘người nhà’, lấy ý các thành viên, tổng hợp quan điểm, rồi kiến nghị lên cơ quan ban hành chính sách. Rồi khi một chính sách mới ban hành, điều chỉnh thế nào đến quyền và nghĩa vụ của hội viên ‘nhà mình’, hội cũng là nơi thông báo lại cho các thành viên được biết. Vai trò của hội đoàn trong tham gia chính sách là thế, là người ‘gác cổng’, chủ động bảo vệ quyền lợi của ‘nhà mình’ trước nhất, chứ không phải là ngồi nhìn và ngồi chờ nhà nước đi hỏi ý kiến từng doanh nghiệp riêng lẻ. Còn ngược lại, với nhà nước, nếu thật sự muốn nghe góp ý chính sách, cách hiệu quả nhất là hãy tìm đến những hiệp hội này để lấy thông tin, đối thoại và tham vấn những tổ chức đại diện này.

Doanh nghiệp là vậy, nhưng anh xe ôm tôi vừa nói chuyện, chị bán trà đá vỉa hè tôi hay lê la, và cô “ô sin” tôi vẫn chạm mặt hàng ngày trong thang máy chung cư thì sao? Kể cả họ chưa hay không tham gia là thành viên hội đoàn chính thức nào đó, sẽ có những tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đứng ra bảo vệ quyền lợi của họ, nói thay tiếng nói của họ. Chẳng hạn, Light một tổ chức phi chính phủ Việt Nam vẫn thường lên tiếng vì những phụ nữ giúp việc gia đình, hay Rồng Xanh, một tổ chức khác vẫn miệt mài vận động cho quyền lợi của những em bé đánh giày, bán hàng rong nơi các thành phố.

Trừ phi những cá nhân là chuyên gia, là những người có quyền lực hoặc ảnh hưởng, may ra tiếng nói của cá nhân họ sẽ có cơ hội được lắng nghe. Còn vô vàn những cá nhân riêng lẻ khác, nếu lên tiếng một mình, tiếng nói đó tuyệt đại đa số sẽ rơi vào thinh không không còn tăm tích. Vì vậy, cách tham gia hiệu quả và thực chất nhất là lên tiếng thông qua những hội đoàn, tổ chức mà họ tham gia hoặc tự nguyện hoạt động vì lợi ích của họ. Với doanh nghiệp, đó là các hiệp hội ngành nghề, các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực họ kinh doanh. Với các nhân là các hội, nhóm mà họ có thể làm thành viên hoặc các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận hoạt động vì lợi ích của nhóm, cộng đồng đặc thù nào đó.

Có một câu nói của một đại biểu Quốc hội vẫn được truyền khẩu rộng rãi “Chính sách trên trời, cuộc đời dưới đất”.  Điều đó là đúng, nhưng tôi không tin căn nguyên thực sự của nhiều chính sách ‘trên trời’ chỉ đơn giản là vì chúng được vẽ vời trong “phòng máy lạnh”. Hãy nhớ, nguồn lực của mọi nhà nước là hữu hạn. Và chính sách là tấm chăn hẹp, kéo chỗ này sẽ hụt chỗ kia. Đừng để đến lúc thấy mình không còn mảnh chăn nào và bị phơi ra giữa gió lạnh mới kêu gào, lúc đó đã là quá muộn. Và bài ca‘nói mãi người ta có nghe đâu’ cũng chẳng làm vấn đề tốt lên. Quan trọng hơn, các cá nhân có lợi ích tương đồng, các cộng đồng, các nhóm liên quan với nhau, đã thực sự tập hợp lại, đã nói đúng kiểu và dùng đúng cách để ‘người ta’ nghe hay chưa. Vậy thì Luật về Hội, trải qua hơn 20 năm thai nghén (từ 1993), đang được dự thảo đến lần thứ 16, và chắc chắn sẽ phải ra đời trước khi đàm phán TPP hoàn thành, nên chăng là điểm khởi đầu

Quy hoạch ngành – vì sao bộ, ngành “nghiện” quản?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), trong phiên trình bày dự thảo Luật Quy hoạch trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội gần đây đã nêu đích danh Bộ Xây dựng đã nhất quyết không buông quy hoạch xây dựng ra khỏi các loại quy hoạch cần phải loại bỏ.

Những tranh cãi của hai bộ này hé lộ rào cản ít được đề cập trong môi trường kinh doanh hiện nay: hàng ngàn bản quy hoạch ngành đang được sử dụng như một hình thức can thiệp hành chính vào thị trường mà đằng sau đó là miếng bánh lợi ích riêng của các cơ quan “quản lý nhà nước” – miếng bánh lợi ích từ ngân sách và miếng bánh từ sự xin – cho.

“Xin – cho” quy hoạch

Một doanh nghiệp kinh doanh chế biến và xuất khẩu nước ép hoa quả từng phân tích kỹ càng cho người viết những tổn thất kinh doanh mà họ phải bỏ ra vì “quy hoạch ngành”. Doanh nghiệp này đã sản xuất và xuất khẩu nước ép trái cây nhiều năm nay. Thời điểm gần đây, nhận thấy chanh leo là một thế mạnh có thể tạo ra nhiều lợi nhuận, trong khi dứa, mặt hàng chủ chốt của họ đang bị cạnh tranh và suy giảm, doanh nghiệp muốn chuyển sang xuất khẩu mặt hàng này. Tuy nhiên, quy hoạch vùng nguyên liệu trong khu vực họ hoạt động không có cây chanh leo. Thế nên, để được trồng cây nguyên liệu mới đó, họ phải mất hơn một năm trời để xin điều chỉnh, bổ sung “quy hoạch”. Một năm trời, chưa nói tới chi phí làm thủ tục, những cơ hội kinh doanh mất đi đủ khiến doanh nghiệp nản lòng.

Ma trận quy hoạch ngành

Quy hoạch vùng trồng dứa, vùng trồng chanh leo như vậy chỉ là một trong hơn 19.000 (bản) quy hoạch khác nhau đang có giá trị thi hành, theo như báo cáo của Bộ KH&ĐT. Con số khổng lồ đó bao gồm đủ thể loại quy hoạch, từ quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch không gian lãnh thổ, quy hoạch ngành sản xuất… Trong khi vai trò của một số loại quy hoạch được xác định là cần thiết thì vai trò của quy hoạch ngành đang là dấu hỏi.

Con số chi tiết cho mỗi loại không được nêu ra, nhưng trong tổng số 19.000 (bản) quy hoạch ấy, các kiểu quy hoạch ngành có lẽ chiếm đa số. Nông nghiệp có quy hoạch vùng nguyên liệu, quy hoạch vùng sản xuất: quy hoạch mía, quy hoạch chè, quy hoạch cà phê, quy hoạch tôm, quy hoạch cá tra, cá ba sa… Trong công nghiệp là quy hoạch ngành than, ngành thép, ngành xi măng… Thậm chí đến cả việc sản xuất và tiêu thụ rượu bia cũng được đưa vào “quy hoạch”!

Hàng ngàn bản quy hoạch ngành đang được sử dụng như một hình thức can thiệp hành chính vào thị trường mà đằng sau đó là miếng bánh lợi ích riêng của các cơ quan quản lý nhà nước – miếng bánh lợi ích từ ngân sách và miếng bánh từ sự xin – cho.

Không khó để nhận thấy, trên lãnh thổ Việt Nam, khó có thứ gì có thoát khỏi “quy hoạch” – khó có loại cây, con, mặt hàng nào nằm ngoài “sự quản lý của nhà nước”.

Lý lẽ phổ biến nhất được đưa ra để làm quy hoạch là nhằm dự báo và định hướng sự phát triển của thị trường, giúp thị trường phát triển hài hòa và cân đối được cung – cầu. Chẳng hạn, trong nông nghiệp, là tránh được việc doanh nghiệp và người dân sản xuất quá nhiều, giảm đi chuyện “được mùa, mất giá”. Mục đích của quy hoạch được biện hộ rất tốt đẹp – bảo vệ lợi ích người sản xuất.

Thế nhưng, trên thực tế, sản xuất hiếm khi nào đi theo “quy hoạch’’. Vấn đề không phải chỉ là do năng lực dự báo và làm quy hoạch yếu kém. Điều quan trọng nhất là doanh nghiệp, người dân hoạt động theo “tín hiệu” cung – cầu của thị trường. Khi thị trường thiếu hụt, họ sẽ sản xuất thêm và ngược lại, giảm quy mô khi thị trường dư thừa. Năng lực phân tích, dự báo thị trường là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành bại kinh doanh của người làm kinh tế – chứ không phải định hướng của người làm quy hoạch. Việc một loạt quy hoạch nông nghiệp thường xuyên “bị phá vỡ” là ví dụ rõ ràng nhất cho thấy, thị trường không thể bị “điều hành” bởi ý chí của cơ quan quản lý hành chính thông qua “quy hoạch”. Điều này càng hợp lý hơn trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu với thế giới, thị trường hàng hóa ở Việt Nam cơ bản đã trở thành mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Vì sao bộ, ngành “nghiện” quy hoạch?

Trong khi quản lý bằng “quy hoạch ngành” đã được chứng minh, bằng cả lý luận lẫn thực tế, là cách thức can thiệp thiếu hiệu quả của Nhà nước vào nền kinh tế thì các bộ, ngành vẫn tiếp tục miệt mài “làm quy hoạch”.

Mới đây nhất, giữa tháng 9, Bộ Công Thương vừa ban hành quy hoạch phát triển ngành bia, rượu, nước giải khát. Trong khi đó, Bộ Xây dựng kiên trì với lập luận “quy hoạch xây dựng” là công cụ quản lý hiệu quả và không thể thiếu để đảm bảo “trật tự, kỷ cương” trong lĩnh vực xây dựng.

Vì sao cơ quan quản lý thích quy hoạch? Câu trả lời rất rõ ràng: “làm quy hoạch” vừa có tiền từ ngân sách, vừa có “lợi ích” nhờ quyền được cấp phép quy hoạch.

Để vẽ được hơn 19.000 quy hoạch nói trên, các bộ, ngành nhận được hơn 8.000 tỉ đồng từ ngân sách nhà nước, theo như thống kê của Bộ KH&ĐT. Tuy nhiên, Bộ KH&ĐT nhận xét chất lượng của các bản quy hoạch ngành là rất thấp và hiếm khi có giá trị trong thực tế.

Đơn cử một ví dụ về quy hoạch ngành than của Bộ Công Thương. Báo cáo của Tổng cục Hải quan cho thấy tám tháng đầu năm, Việt Nam đã nhập về gần 10 triệu tấn than. Con số này cao gấp 3 lần dự báo của Bộ Công Thương đưa ra hồi đầu năm. Là dự báo ngắn hạn trong vòng một năm, trong điều kiện thị trường, cũng như nền kinh tế không có biến động phức tạp, sai số như vậy là quá lớn. Trong khi đó, quy hoạch ngành than sẽ phải dự báo trên cơ sở cung – cầu của thị trường. Dự báo ngắn hạn còn sai, dự báo dài hạn thì xác suất chính xác cao đến mức nào? Đó có lẽ là lý do khiến cho một loạt quy hoạch của ngành này, từ năng lượng, đến xi măng, sắt thép liên tục bị lạc hậu và liên tục phải xin điều chỉnh.

Lợi ích “ngân sách” đã vậy, lợi ích thực tế của các bộ ngành từ việc “xin – cho” quy hoạch còn lớn hơn rất nhiều. Mọi doanh nghiệp, như công ty sản xuất nước ép trái cây vừa kể trên, muốn “vào” được quy hoạch, hay “thay đổi quy hoạch” đều phải mất các chi phí không chính thức cho cơ quan cấp phép. Các dự án quy mô càng lớn, đồng nghĩa với thẩm quyền phê duyệt càng ở cấp cao hơn, “chi phí” để “xin” càng nhiều.

Trong một số lĩnh vực, khi số lượng “dự án” đã được cấp phép đủ với quy hoạch, những doanh nghiệp đến sau, nếu không đủ “quan hệ” để xin được điều chỉnh quy hoạch, còn phải “mua lại” giấy phép của người đi trước. Một thị trường ngầm – không chính thức – sinh ra để đáp ứng các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước, mà người thiệt hại là doanh nghiệp, còn bên hưởng lợi, không ai khác là các bộ, ngành và cơ quan liên quan.

Chấm dứt can thiệp bằng quy hoạch nhằm cải thiện môi trường kinh doanh

Cải cách môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được xác định là ưu tiên cao nhất trong nghị trình hành động của Chính phủ mới.

Tuy nhiên, những thách thức của Chính phủ không chỉ đến từ bên ngoài, mà cơ bản và khó khăn nhất đến ngay từ trong bộ máy hành chính của mình. Trở ngại cho việc xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng và minh bạch bắt nguồn từ lợi ích riêng của bộ, ngành là rất lớn, không chỉ có riêng giấy “giấy phép con” mà còn là hàng chục ngàn các quy hoạch và thủ tục đi kèm như vừa phân tích ở trên. Bệnh “nghiện quản”, tư duy “lo hộ, nghĩ hộ” của các cơ quan nhà nước không phải ngẫu nhiên bùng phát như trong thời gian qua.

Do đó, từ Quốc hội và Chính phủ, việc tư duy lại một cách hợp lý vai trò Nhà nước và thị trường, từ đó xác định ranh giới Nhà nước và thị trường nên được xem là kim chỉ nam định hướng cho cải cách môi trường kinh doanh hiện nay. Thu hẹp mảnh đất “trục lợi” của giấy phép con, của “quy hoạch” cần dựa trên các nguyên tắc phân định vai trò này.

Dự thảo Luật Quy hoạch, được Bộ KH&ĐT dự thảo, đang đi đúng hướng, là cơ hội lớn để xác định các “toa thuốc” hợp lý trị tận gốc các căn bệnh nêu trên.