Một hình dung Quân đội không làm kinh tế nữa

Những thảo luận công khai và cởi mở xung quanh câu chuyện đất sân golf ở sân bay Tân Sơn Nhất đã gợi mở đến những vấn đề chính sách cốt lõi: đất quốc phòng nói riêng, và chủ trương quân đội có nên làm kinh tế hay không nói chung.

Phát biểu gần đây nhất của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Chiêm được báo chí trích dẫn rằng quân đội sẽ không làm kinh tế để tập trung vào phát triển nền quốc phòng chuyên nghiệp và hiện đại, đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi. Tập trung vào nhiệm vụ cốt lõi – bảo vệ Tổ quốc – không chỉ làm quân đội mạnh lên, khu vực kinh tế dân doanh trong nước rõ ràng cũng được hưởng lợi. Chủ trương trên của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng giải bài toán “dân sự hóa” doanh nghiệp quốc phòng, để một mặt nguồn lực và khối tài sản khổng lồ này phát huy được hiệu quả, đồng thời tránh thất thoát tài sản nhà nước, là vấn đề lớn cần tiếp tục được thảo luận rộng rãi.

Dân sự hóa doanh nghiệp quốc phòng như thế nào?

“Cổ phần hóa” được nhắc đến như là giải pháp để Nhà nước rút khỏi các doanh nghiệp quốc phòng. Định hướng là đúng, nhưng cách làm cần có những điểm đột phá. Trước hết, tiến trình “dân sự hóa” các doanh nghiệp quốc phòng cần tránh đi theo cách làm cổ phần hóa nửa vời, chậm trễ và làm thất thoát tài sản nhà nước như tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang vướng phải. Căn bản nhất, Chính phủ cần xác định dứt khoát rằng, nhóm doanh nghiệp nào cần Nhà nước nắm toàn bộ để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng thì giữ lại như một đơn vị quân đội. Nhóm doanh nghiệp nào không phục vụ nhiệm vụ quân sự thì cần bán lại 100% cho khu vực tư nhân.

Nhóm thứ nhất có thể là các doanh nghiệp đang sản xuất vũ khí và phát triển công nghệ quốc phòng. Với nhóm này, sắp tới không nên gắn chức năng làm kinh tế cho họ mà chỉ yêu cầu tập trung phục vụ nhu cầu quốc phòng. Điều này giúp tránh phát sinh các mâu thuẫn giữa nhiệm vụ chính trị (phục vụ quốc phòng) và nhiệm vụ kinh doanh (theo đuổi lợi nhuận và hiệu quả kinh tế) – vốn là hai nhiệm vụ không thể cùng lúc đáp ứng với một tổ chức nhà nước.

Nhóm còn lại, chiếm số lượng lớn, hiện đang sản xuất, kinh doanh như những đơn vị dân sự. Nhóm này cần bán 100% cho tư nhân, Nhà nước tuyệt đối không nên nắm cổ phần trong đó. Quan trọng hơn, không chỉ doanh nghiệp quốc phòng đang kinh doanh xây dựng, kinh doanh viễn thông, ngân hàng cần tư nhân hóa 100%, mà các doanh nghiệp cung cấp những dịch vụ phi quân sự như quân trang, tư trang cho quân nhân cũng không cần Nhà nước nắm cổ phần. Kinh nghiệm cho thấy, quân đội có thể tổ chức đấu thầu công khai để doanh nghiệp tư nhân cung cấp các dịch vụ, nhu yếu phẩm cho quân nhân, với chi phí rẻ hơn và hiệu quả hơn rất nhiều so với doanh nghiệp quốc phòng.

Trong nhóm thứ hai này, để tiến trình bán tài sản diễn ra nhanh mà không thất thoát, cần phân loại doanh nghiệp thành hai nhóm nhỏ, dựa trên tiêu chí là hiệu quả hoạt động để có phương án xử lý hợp lý. Nhóm một là các doanh nghiệp đang thua lỗ, hoạt động không hiệu quả và khó thu hút tư nhân mua lại. Nhà nước cần kiên quyết giải thể những doanh nghiệp này. Tài sản cố định còn lại có thể bán thanh lý. Riêng đất đai – là tài sản có giá trị lớn nhất, sau khi giải thể doanh nghiệp, Quốc hội cần yêu cầu Bộ Quốc phòng trả lại cho chính quyền địa phương. Hội đồng nhân dân địa phương sẽ quyết định sử dụng đất đai này như thế nào: tiến hành bán đấu giá quyền sử dụng đất và thu tiền về ngân sách địa phương; hoặc sử dụng đất đai đó cho các mục đích xã hội, công cộng phục vụ người dân địa phương.

Cần một nghị quyết hướng dẫn từ Quốc hội

Để làm được điều này, Quốc hội cần có một nghị quyết để xác lập quan điểm và nguyên tắc hướng dẫn cho toàn bộ tiến trình này. Theo đó, nghị quyết có thể xác lập những nội dung chủ yếu:

Thứ nhất, xác lập quan điểm ủng hộ của Quốc hội với việc quân đội không làm kinh tế; và các nguyên tắc, lộ trình cho việc xử lý tài sản nhà nước còn do doanh nghiệp quốc phòng nắm giữ.

Thứ hai, Quốc hội cần yêu cầu Chính phủ tiến hành kiểm toán, đánh giá lại toàn bộ tài sản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng. Quan trọng nhất trong hoạt động này là rà soát và tổng kiểm kê lại quỹ đất mà các doanh nghiệp này đang nắm giữ.

Thứ ba, hướng dẫn Chính phủ xử lý tài sản nhà nước trong doanh nghiệp quốc phòng thông qua tư nhân hóa và bán tài sản theo các nguyên tắc thảo luận như trên.

Chấm dứt vai trò làm kinh tế của lực lượng quốc phòng là chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Song song với chấm dứt vai trò kinh tế của doanh nghiệp quốc phòng, cũng cần tiến tới chấm dứt vai trò làm kinh tế của lực lượng an ninh. Giải được bài toán xử lý tài sản của doanh nghiệp quốc phòng cũng chính là tìm được lời giải cho bài toán hoàn toàn tương tự với doanh nghiệp của lực lượng an ninh. Hy vọng rằng, Quốc hội, trong không khí thảo luận cởi mở và minh bạch như hiện nay, sẽ tiếp tục đánh giá và tiếp thu các khuyến nghị hợp lý nhằm thực hiện tốt chủ trương xác đáng này.

Advertisements

Không thể cứ mãi quay lưng với cái mới

Ngày nay, ai cũng biết những cỗ máy chạy bằng động cơ hơi nước đã mở ra cánh cửa của cuộc cách mạng công nghiệp, đưa thế giới bước vào thời hiện đại, với mức độ phát triển cao chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, bước chuyển đó không đơn giản.

Ở Anh, những năm đầu thế kỷ 19, khi những chiếc máy dệt chạy bằng hơi nước được đưa vào sử dụng, đã xảy ra hàng loạt cuộc nổi loạn, thậm chí đập phá những chiếc máy mới này. Nguyên do là những cỗ máy có năng suất làm việc cao hơn hẳn đã “cướp việc” của công nhân vốn vẫn làm việc bằng tay. Khi quyền lợi và cuộc sống bị đe dọa, công nhân đã phản đối bằng cách nổi loạn và đập phá máy móc.

Thật may mắn cho người Anh, chính quyền lúc đó đã không quay lưng lại với những phát minh và cấm đoán những cỗ máy này. Thời gian đã chứng minh, đó là lựa chọn sáng suốt. Bởi cuối cùng, những tiến bộ từ khoa học và công nghệ, đi cùng những tiến bộ về thể chế chính trị, không chỉ mang lại sự giàu có cho giới chủ, mà từng bước đồng thời nâng cao thu nhập và phúc lợi của người làm công. Người dân, cuối cùng vẫn có thể chia sẻ thành quả kinh tế mang lại bởi những tiến bộ về công nghệ và các thay đổi thể chế theo hướng dân chủ và công bằng.

Nhắc lại chuyện cũ để thấy rằng thái độ quay lưng với những bước đi tiến bộ trong kinh doanh, trong phát minh công nghệ của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT), qua hành động từ chối dịch vụ đi xe chung Grabshare và Uber Pool, là rất khó hiểu. Những viện dẫn bằng căn cứ pháp lý rằng, luật pháp Việt Nam chưa cho phép kinh doanh loại hình này mà bộ này đưa ra lại càng trở nên phản cảm.

Thứ nhất, kinh tế chia sẻ đã không còn là khái niệm mới mẻ, không chỉ với thế giới mà ngay cả ở Việt Nam. Sau những lúng túng ban đầu, nhiều quốc gia đã điều chỉnh các quy định pháp lý về kinh doanh, không chỉ để đón nhận, mà còn khuyến khích xu hướng kinh tế này.

Các ngành kinh doanh, trước nhất là kinh doanh vận tải, kinh doanh lưu trú (khách sạn, phòng nghỉ) đã và đang thay đổi sâu sắc trước các xu hướng này. Bởi vậy, Bộ GTVT không thể nói họ “không nghe, không biết” – với những chuyển động mới của cuộc sống, của nền kinh tế vốn đã diễn ra hơn năm năm qua. Với nhiệm vụ của những người quản lý, điều tiết thị trường, họ đã làm gì trong suốt thời gian đó? Để rồi, khi doanh nghiệp giới thiệu dịch vụ – một hình thức kinh doanh mới có lợi cho người tiêu dùng, cho nền kinh tế, bền vững cho môi trường lại quay sang bao biện: chưa có khuôn khổ pháp lý.

Nên nhớ, quyền tạo ra “luật chơi” là trong tay họ, là chức năng công việc của họ. Một tổ chức công quyền như Bộ GTVT được lập ra để làm những việc đó, và người dân đóng thuế cho họ chính là để họ làm những công việc đó. Vì vậy, lập luận rằng hình thức kinh doanh “đi chung xe” là không được phép làm, vì rằng nó không phù hợp với khuôn khổ quy định hiện hành, là hoàn toàn khiên cưỡng, nếu không muốn nói là vô trách nhiệm.

Thứ hai, kể cả “sự chậm trễ” là có lý do, nhằm giúp cho các doanh nghiệp trong nước kịp phát triển các dịch vụ tương tự, thì đó cũng phải là chiến lược khôn ngoan. Cạnh tranh, từ lâu đã được thừa nhận là động lực phát triển của kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp trong nước, một khi muốn phát triển, cần phải đặt họ trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài khác. Mọi hình thức bảo hộ từ nhà nước, cho dù bằng các rào cản kỹ thuật, như kinh nghiệm cho thấy đều không phải là giải pháp hiệu quả. Lợi chưa thấy đâu, nhưng rủi ro thiệt hại kép là rất rõ. Đó là, do được bảo hộ, doanh nghiệp sẽ không chịu lớn và người tiêu dùng phải chịu thiệt hại trực tiếp do không được tiếp cận các dịch vụ có giá rẻ hơn.

Có thể nói, bất kể vì lý do gì đi chăng nữa, việc Bộ GTVT cố tình ngăn cản các dịch vụ mới của Grab, Uber đều là thái độ khó có thể được người dân chấp nhận. Trong khi Chính phủ liên tục hô hào tinh thần kiến tạo, thúc đẩy khởi nghiệp, đón đầu cách mạng công nghiệp 4.0, cách hành xử quay lưng với cái mới, cái tiến bộ của Bộ GTVT cho thấy thách thức lớn cho Chính phủ trong việc lấp đầy khoảng cách từ lời nói đến hành động của các cơ quan công quyền.

Bài đã đăng TBKTSG:

http://www.thesaigontimes.vn/162188/Khong-the-cu-mai-quay-lung-voi-cai-moi.html

2016, “thiên nga đen” và đổi mới chính sách

Trong nhiều năm trở lại đây, nếu phải chọn một năm với nhiều sự kiện “thiên nga đen” nhất chắc hẳn nhiều người sẽ chọn năm 2016.

“Thiên nga đen” (Black swan) là thuật ngữ do Nassim Taleb khởi xướng, được sử dụng rộng rãi trước nhất trong thị trường tài chính, hàm ý chỉ những sự kiện có tác động lớn nhưng lại xuất hiện một cách bất ngờ và gần như không dự báo được.

Thời điểm này một năm về trước, khi quả cầu đón năm mới trên quảng trường Thời đại rơi xuống, có lẽ số ít người Mỹ nghĩ rằng vị tổng thống được chọn ra trong năm 2016 lại là ông Donald Trump. Và bên kia bờ Đại Tây Dương, trong màn pháo hoa rực rỡ trên sông Thame, người Anh và châu Âu nói chung ít ai biết rằng, chỉ năm tháng nữa thôi, số đông cử tri Anh sẽ chọn lựa rời bỏ châu Âu.

Cũng thời điểm ấy, người Việt, bước vào năm 2016 trong dư âm hân hoan của việc Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vừa được ký kết, đang chờ đợi một kịch bản tươi sáng hơn cho nền kinh tế vốn ít nhiều kém khởi sắc trong suốt quãng thời gian dài vừa qua. Chắc chắn rằng, không nhiều người bi quan và sẵn sàng tâm thế cho một loạt những biến cố đang chờ đợi.

Tháng 4, sự cố môi trường biển do Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ra làm bốn tỉnh miền Trung điêu đứng. Những lo ngại về an toàn thực phẩm trong những tháng đầu năm 2016 lên đến đỉnh điểm. Thực phẩm bẩn, vốn đã ám ảnh bữa ăn người Việt suốt thời gian dài vừa qua, thực sự trở thành một cuộc khủng hoảng. Chưa hết, năm 2016 cũng là năm chứng kiến những đợt thiên tai khốc liệt nhất trong nhiều năm trở lại đây. Đầu năm, hạn mặn lên đến đỉnh điểm kéo dài ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Cuối năm, lũ lụt ở Nam Trung bộ gây thiệt hại lớn cả về sinh mạng con người lẫn vật chất.

Dù năm 2016 không phải là không có những điểm sáng, đơn cử là làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ trong giới trẻ, là quyết tâm hành động của Chính phủ mới nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, nhưng tổng thể, 2016 vẫn là một bức tranh với đa phần mảng màu kém tươi sáng và nổi bật trên đó là những “sự kiện thiên nga đen”.

Từ “thiên nga đen’ đến những “nan đề phức hợp” và đổi mới chính sách

Năm 2017, áp lực cải cách càng lớn hơn với Chính phủ sau những hệ quả của các “thiên nga đen” năm cũ. Kinh nghiệm, các bài học và mô hình cải cách từ bản thân Việt Nam lẫn các nước đi trước, rõ ràng là không thiếu, vấn đề còn lại vẫn là lựa chọn của chính chúng ta.

Không phải đến bây giờ, tính bất định mới được thừa nhận. Trong các khoa học tự nhiên, sự xác tín vào những hiểu biết mang tính chắc chắn, niềm tin vào tính xác định của thế giới vật chất, từ lâu đã nhường chỗ cho sự thừa nhận về tính bất định. Bất chấp sự tăng tiến chóng mặt của các khám phá công nghệ mới và khối lượng tri thức khổng lồ tích lũy được, nhiều hiện tượng là không thể dự báo. Điều đó rõ ràng cũng đúng trong đời sống xã hội. Các sự kiện “thiên nga đen” – những cuộc khủng hoảng lớn, luôn có chỗ đứng của nó, bất chấp các nỗ lực dự báo của giới chuyên môn.

Nhưng nói thế không phải là đầu hàng “thiên nga đen”. Dự báo “thiên nga đen” luôn là vấn đề tranh cãi. Nhưng nỗ lực tìm hiểu về nó cho phép đi đến một nhận thức được thống nhất cao, rằng đối với “thiên nga đen’’, trọng tâm không phải là sự kiện gì sẽ đến vào lúc nào. Quan trọng hơn là nhận diện sớm các rủi ro để có những chiến lược ứng phó và thích nghi hữu hiệu. Nói cách khác, dù thời điểm xảy ra sự kiện là không thể dự báo, nhưng mọi sự kiện đều cần đến những yếu tố tiền đề và môi trường cho nó xảy ra. Và đó là những yếu tố có thể xác định được. Xác định các yếu tố rủi ro, nghĩa là có thể có các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp.

Một thuật ngữ gần đây đang được sử dụng thường xuyên hơn để mô tả những loại vấn đề chính sách này, đó là “wicked problem” (tạm dịch “nan đề mang tính phức hợp”). Đặc điểm chính của các “nan đề” loại này là tính khó định dạng của vấn đề, mối quan hệ “nhân” – “quả” phức tạp liên quan đến nhiều nhóm đối tượng, liên tục tương tác và biến đổi. Các “nan đề” này gần như không giải quyết được hoàn toàn mà can thiệp chính sách chỉ có thể giảm tác động xấu của nó. Nghèo đói, bất bình đẳng thu nhập, quản lý tài nguyên chung… có thể xem là những “nan đề” tiêu biểu.

Trở lại với Việt Nam, những “sự kiện thiên nga đen” và “các nan đề phức hợp” thể hiện rất rõ. Đơn cử, sự cố Formosa, với một quy mô toàn khu vực như vậy, có thể là vượt ngưỡng dự báo. Nhưng những yếu tố rủi ro đã xuất hiện từ trước đó: từ quy hoạch môi trường, giám sát tuân thủ thực thi các tiêu chuẩn xả thải; năng lực ứng phó khi có thảm họa… Sự cố chỉ là “điểm bùng phát” của một loạt diễn tiến. Nhưng sự cộng hưởng của các rủi ro thành phần, rốt cuộc đẩy rủi ro hệ thống vượt mọi ngưỡng tiên liệu và vượt xa khả năng hiện có để ứng phó.

Những phân tích tương tự có thể thấy trong trường hợp hạn mặn ở ĐBSCL. Mức độ khốc liệt của El Nino đúng là cực đại trong hơn trăm năm qua. Nhưng những yếu tố rủi ro khác đã được nhận biết trước đó: các đập thủy điện dày đặc trên khắp lưu vực sông Mêkông làm sụt giảm lượng nước vốn đã ít ỏi; mạng lưới đê bao, cống ngăn mặn, thoát lũ vốn đã được quy hoạch không hợp lý; cách thức canh tác và tổ chức dân cư… Tất cả cộng hưởng và tương tác với El Nino để gây ra thiên tai nghiêm trọng vượt quá khả năng ứng phó của hệ thống hiện tại.

“Thiên nga đen”, và rộng hơn các “nan đề phức hợp”, như vụ ô nhiễm môi trường biển do Formosa Hà Tĩnh gây ra, như thực phẩm bẩn, khi sự kiện đi qua, nhìn lại có thể giải thích khá rõ ràng, kể cả chỉ ra các yếu tố rủi ro. Vì vậy điều quan trọng vẫn là nhận diện từng yếu tố rủi ro, và quản trị, xử lý từng yếu tố trong hệ thống, chứ không đợi đến khi các rủi ro tương tác và bùng phát.

Nhưng nói đi vẫn phải nói lại, lý thuyết là vậy, song thực tế là không đơn giản. Bởi lẽ, thứ nhất, nhận diện các yếu tố đang “ẩn”, tích tụ và diễn tiến là điều không dễ. Thứ hai, hệ thống nhà nước vốn thường được thiết kế để “giải quyết” khi vấn đề đã xảy ra chứ ít khi vì mục đích ngăn ngừa rủi ro có thể đến.

“Think- tank” trong đổi mới chính sách và giải quyết các “nan đề phức hợp” ở Việt Nam

Nghiên cứu lý thuyết lẫn kinh nghiệm thực tiễn các quốc gia khác đều khá thống nhất rằng “đổi mới chính sách” (policy innovation) được xem là cách thức tốt để các chính phủ ứng phó với các “nan đề phức hợp”.
Việc nhận diện các nan đề phức hợp cần có tri thức tổng hợp về nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, mô hình tổ chức các bộ ngành phân mảnh như hiện nay đã làm hạn chế đáng kể năng lực phân tích và nhận diện các vấn đề chính sách vốn liên ngành – đa lĩnh vực. Mỗi bộ, ngành, tuy có đầy đủ các viện nghiên cứu chiến lược phát triển ngành (thậm chí có những bộ có vài ba viện), nhưng năng lực phân tích và tư vấn chính sách của các viện này phần lớn là hạn chế. Quan trọng hơn, các viện bị “phân mảnh” nhiều, trong khi Chính phủ lại thiếu các nhóm chiến lược có khả năng tư duy vấn đề phức hợp và liên ngành.

Những giải pháp chính sách chắp vá và thiếu hiệu quả trên nhiều vấn đề lớn hiện nay thể hiện rõ thực trạng đó. Đơn cử, những vấn đề nóng về lương tối thiểu, về tuổi nghỉ hưu và hưởng bảo hiểm xã hội… đang bị tư duy phân mảnh trong lĩnh vực chức năng của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Trong khi đó, vấn đề phức tạp này khó có thể giải quyết nếu không tiếp cận tổng thể về hệ thống an sinh xã hội và tiếp cận dịch vụ công – một lĩnh vực liên quan đến hàng loạt các bộ, ngành khác trong Chính phủ và nhiều chủ thể khác ở khu vực tư. Hay vấn đề ứng phó với hạn mặn, biến đổi khí hậu ở ĐBSCL, nỗ lực riêng lẻ của từng tỉnh đang làm suy giảm hiệu quả khi thiếu tiếp cận tổng thể toàn vùng.

Trong ngắn hạn, một giải pháp có thể tham khảo từ các quốc gia khác, đó là tận dụng nguồn lực tư vấn chính sách từ các nhóm nghiên cứu và tư vấn chiến lược – tức các “think-tank” độc lập. Think-tank tự nó không phải là giải pháp, nhưng think-tank với khả năng ứng dụng tri thức từ nghiên cứu học thuật, với hiểu biết thực tiễn, cộng với nhạy cảm về chính trị và hiểu biết về thể chế hiện hành, có thể đóng góp hiệu quả vào việc đề xuất những giải pháp chính sách khả thi.

Thủ tướng Chính phủ, trong những ngày cuối năm, vừa có cuộc gặp tham vấn với các trí thức và chuyên gia trong mạng lưới phát triển toàn cầu ở Việt Nam. Động thái đó là tích cực, nhưng để không mang tính hình thức và có thể phát huy hiệu quả thực sự, cần những động thái xa hơn và căn bản hơn: lãnh đạo Chính phủ cần có những nhóm chuyên gia tư vấn trong những nhóm vấn đề cụ thể. Nhóm “task force” (tổ công tác) này sẽ sát cánh cùng Chính phủ để làm việc dài hơi với những chủ đề và nhiệm vụ lớn được giao phó. Các “task-force” về cải cách thiết chế thị trường; đất đai và các vấn đề sở hữu; cải cách hành chính và quản trị địa phương, hiện đại hóa hệ thống tư pháp… nếu được tổ chức hợp lý, có thể nhanh chóng giúp Chính phủ bù đắp những thiếu hụt về năng lực kỹ thuật làm nền tảng cho những đổi mới chính sách căn bản.

Hợp pháp hóa kinh doanh cá cược: Cần tiên liệu những hệ quả kinh tế-xã hội

Một khung pháp lý tốt cho kinh doanh cá cược không đồng nghĩa với những thách thức đã được giải quyết.

Với việc dự thảo nghị định về kinh doanh đặt cược cho ba hình thức đua ngựa, đua chó và bóng đá quốc tế đang được gấp rút hoàn thiện, một trong những vấn đề chính sách gây tranh cãi nhất đã được thừa nhận và đưa vào khuôn khổ điều chỉnh của pháp luật.

Khách quan mà nói, hình thành một khung pháp lý chính thức cho các hoạt động cá cược là hướng đi đúng và cần thiết phải làm. Dù cá cược là xu thế không mong muốn – không một chính phủ nào khuyến khích công dân mình cá cược – nhưng đó là một nhu cầu thực tế của một bộ phận người dân, một hoạt động kinh tế mà nếu đặt nó ngoài khuôn khổ pháp luật, Nhà nước không chỉ thất thu một khoản thuế khổng lồ, một bộ phận người dân sẽ bị đặt trước những rủi ro ngầm ẩn và toàn xã hội cũng có nguy cơ gánh những hệ lụy không nhỏ. Bởi thế, sự ra đời của nghị định này là đáng hoan nghênh.

Dường như đón đầu việc hợp thức hóa các hoạt động cá cược này, làn sóng phát triển nóng loại hình kinh doanh cá cược đã lộ diện. Trải dài từ Bắc đến Nam, một loạt dự án đang được khởi động. Ở Hà Nội, Tổng công ty Du lịch Hà Nội và Công ty Global Consultant Network Co.Ltd của Hàn Quốc vừa thỏa thuận thành lập liên doanh xây dựng tổ hợp giải trí, trong đó có trường đua ngựa ở Sóc Sơn. Ở miền Trung, Phú Yên đã cấp giấy chứng nhận đầu tư dự án trường đua ngựa Phú Yên cho Công ty Golden Turf Club Pty Ltd trên diện tích hơn 134 héc ta. Ở phía Nam, Công ty Du lịch Đại Nam cũng đang lên kế hoạch xây dựng trường đua Đại Nam trên diện tích đất 60-70 héc ta.

Sự phát triển “nóng” của hoạt động kinh doanh cá cược có thể tiềm ẩn những bất lợi cho nền kinh tế nói chung, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế – xã hội rất đặc thù của Việt Nam.

Thứ nhất, dòng vốn đầu tư thay vì chảy vào những lĩnh vực sản xuất thực – yếu tố tạo nên nền tảng phát triển bền vững, có thể dịch chuyển sang lĩnh vực có thể tạo ra lợi nhuận cao và nhanh như kinh doanh cá cược. Điều này đã từng xảy ra trong quá khứ, khi dòng vốn ồ ạt chảy vào bất động sản và đầu tư tài chính – và để lại những hệ quả nghiêm trọng cho nền kinh tế đến tận ngày nay. Hơn thế nữa, xu hướng này càng đặc biệt đáng lo ngại ở Việt Nam, nơi mà tham nhũng luôn là vấn đề nghiêm trọng. Nguồn tiền phi pháp từ tham nhũng hoàn toàn có thể chảy vào những dự án dạng này – trở thành một phương thức “rửa tiền” hợp pháp để biến “tiền bẩn” thành “tiền sạch”.

Hợp thức hóa kinh doanh cá cược là bước đi cần thiết. Nhưng tiên liệu những hệ quả kinh tế – xã hội, từ đó có đối sách hợp lý tiếp tục là bài toán đang đặt ra cho các cơ quan xây dựng và thực thi chính sách hiện nay.

Thứ hai, các dự án trường đua thường sử dụng quỹ đất lớn, tiềm ẩn nguy cơ gây thêm căng thẳng cho quá trình chuyển đổi đất đai hiện nay. Các địa điểm giải trí thường không thể xây dựng quá xa khu trung tâm. Mặt khác, ai cũng biết không doanh nghiệp nào chỉ đơn thuần xây dựng trường đua mà không phát triển các dịch vụ bất động sản đi kèm với nó. Trong khi đó, vùng ven các đô thị thường là đất nông nghiệp, với diện tích nhỏ và thuộc về một số lượng lớn các chủ sở hữu cá thể.

Quá trình thương lượng giữa các doanh nghiệp và các chủ đất đơn lẻ, về mặt pháp lý phải được thực hiện theo tiến trình dân sự giữa hai bên. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp, để lấy được đất nhanh hơn, cũng như với chi phí thấp hơn, thường bắt tay với chính quyền địa phương để chính quyền đứng ra thu hồi đất. Việc sử dụng quyền lực hành chính thường dẫn đến thua thiệt cho người dân. Hiếm khi giá trị đất đai được đền bù thỏa đáng theo giá thị trường và trên cơ sở thỏa thuận bình đẳng, minh bạch. Đây là nguồn cơn của phần lớn những vụ kiện cáo phức tạp về đất đai, gây ra những căng thẳng giữa người dân với chính quyền, người dân với doanh nghiệp như đã thấy trong suốt thời gian qua.

Tất nhiên, những nguy cơ dạng này phổ biến với mọi hoạt động kinh tế cần đến đất đai; tuy nhiên với xu hướng gia tăng đáng quan ngại của các mối quan hệ thân hữu ở giữa doanh nghiệp và chính quyền, giữa quan chức và các doanh nghiệp sân sau, cũng như đặc điểm dòng tiền phi pháp từ tham nhũng nói trên, vấn đề đất đai cho các trường đua và dịch vụ đi kèm sẽ càng thêm nghiêm trọng. Hơn thế nữa, bởi những hệ lụy xã hội khác, các trường đua nếu được cho phép mở tràn lan, còn ngầm ẩn nhiều vấn đề hơn cả các sân golf – vấn đề mà Việt Nam trước đây từng vất vả giải quyết.

Với những lý do nêu trên, các cơ quan quản lý cần tiếp tục thận trọng trong việc giám sát sự phát triển của các loại hình kinh doanh cá cược, đặc biệt là các trường đua. Hai giải pháp chính sách cần được cân nhắc để sử dụng.

Thứ nhất, các công cụ kinh tế như thuế cần được áp dụng chặt chẽ. Thuế cao đánh vào các loại hình kinh doanh cá cược sẽ khiến các doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng khi tiến hành kinh doanh. Thuế cao gián tiếp sẽ tác động đến người chơi, qua đó trở thành biện pháp hạn chế một cách hợp pháp những người cá cược.

Thứ hai, với vấn đề đất đai, quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa doanh nghiệp và người dân cần được nghiêm túc thực hiện theo pháp luật. Chính quyền địa phương cần tuyệt đối tránh việc đứng ra thay mặt doanh nghiệp thu hồi đất từ người dân. Bản thân việc doanh nghiệp phải thương lượng trực tiếp với người dân theo giá thị trường; và chi phí gia tăng hợp lý từ quá trình này cũng là một vấn đề khiến các doanh nghiệp cần cân nhắc khi quyết định đầu tư.

Có thể nói, kinh doanh cá cược là các hoạt động kinh tế, dù Nhà nước khuyến khích hay không, bản thân nó vẫn sẽ tồn tại. Vì thế, hợp thức hóa kinh doanh cá cược là bước đi cần thiết. Nhưng tiên liệu những hệ quả kinh tế và xã hội, từ đó có đối sách hợp lý tiếp tục là bài toán đang đặt ra cho các cơ quan xây dựng và thực thi chính sách hiện nay.

Sóng ngầm Ngân sách?

Từ chi thường xuyên tăng vọt

Tuần trước, trong chuyến đi công tác vào một xã miền núi ở Bắc Miền trung, chúng tôi có dịp ngồi ăn trưa chung với một nhóm cán bộ xã. Cao hứng câu chuyện, anh công an viên ‘khoe’ tháng rồi anh phải dành gần một tháng tiền lương, để góp phần vào trả tiền tiếp khách của xã cho quán ăn này. Tranh thủ hỏi thêm, bà chủ quán cho biết, đây là ‘quán quen’ của xã, và xã còn nợ bà đến gần trăm triệu.

Câu chuyện nợ nần của các địa phương giờ đã là ‘chuyện thường ngày ở huyện’. Năm ngoái, Thành ủy thành phố Bạc Liêu lùm xùm chuyện tài khoản rỗng không giữa lúc bàn giao nhiệm kỳ, trong khi Thành ủy còn nhiều khoản nợ chưa trả hết. Ở Cà Mau, một chủ quán nhậu khác đòi đốt trụ sở ủy ban một xã, cũng vì cán bộ nợ tiền tiếp khách đến gần 50 triệu.

Những khoản nợ tiền tiếp khách như vừa nêu mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm ngân sách địa phương. Kỷ luật tài khóa ở trung ương vốn đã không chặt chẽ gì, ở địa phương chắc chắn còn lỏng lẻo hơn. Chưa có những tính toán chi tiết hoặc những báo cáo tài chính đáng tin cậy, tuy nhiên, từ quan sát cũng có thể thấy, những cuộc họp hành liên miên, tiếp khách, lễ lạt, kỷ niệm…tăng tỷ lệ thuận với ‘sổ nợ’ của các Ủy ban, cơ quan đoàn thể tại các quán ăn, nhà hàng ở địa phương. Tiền ấy đương nhiên không phải là tiền túi của công chức, mà là từ nguồn chi thường xuyên trong ngân sách trích ra. Hiệu quả của những khoản chi ngốn một phần không nhỏ trong ngân sách nhà nước này thật khó có thể đo lường.

Đến hiệu quả đầu tư công  

Cũng trong thời gian ngắn gần đây, một loạt những dự án do các Doanh nghiệp nhà nước, hoặc doanh nghiệp có nhà nước chiếm cổ phần chi phối, nghĩa là bằng cách này hay cách khác sử dụng gián tiếp tiền từ ngân sách,  bị điểm mặt chỉ tên là thiếu hiệu quả. Đó là bảy nhà máy sản xuất xăng Ethanol, trong đó có 3 nhà máy của Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) nằm đắp chiếu[1]. Là đại dự án nhà máy thép 8000 tỷ của công ty cổ phần gang thép Thái nguyên đang hoang tàn[2]. Danh sách của những nhà máy thua lỗ, những con đường chưa đi đã hỏng, những khu chợ, trung tâm thương mại thưa thớt người buôn bán, kinh doanh, những tượng đài cỏ mọc còn dài và chắc chắn còn đang tiếp tục dài lên thêm nữa …. Tất cả có cùng góp phần cho một ‘thành tích’ – tăng nợ công quốc gia và làm xói mòn tiềm năng phát triển của đất nước.

Và Ngân sách quốc gia

Chi ngân sách hợp thành từ hai cấu phần: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Chưa nói đến chuyện đến chuyện chi thường xuyên nuôi bộ máy nhà nước vận hành tăng vọt, ngốn gần hết chi cho đầu tư; nhìn sâu vào từng mảng đều thấy ngổn ngang các vấn đề. Chính phủ mới được dự báo đang đứng trước những khó khăn gay gắt nhất trong nhiều năm gần đây khi đối mặt với bài toán tài chính như thế. Nhưng lời giải bài toán không nên là tăng thu để bù đắp chi. Giải pháp ‘tăng thu’ thậm chí nhiều ý kiến cho là ‘tận thu’ như hiện nay, thông qua tăng thuế và phí, và giá các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, không phải là giải pháp căn cơ, thậm chí tiềm ẩn nhiều nguy cơ cả về kinh tế và xã hội. Không thể đòi hỏi người dân và doanh nghiệp oằn mình ra để gánh ngân sách, trong khi bộ máy nhà nước vẫn ‘vung tay quá trán’ với kỷ luật tài khóa lỏng lẻo như thế này.

Về mặt ngắn hạn, những giải pháp kỹ thuật đã được đề xuất, với việc thông qua Luật Ngân sách Nhà nước và Luật đầu tư công năm ngoái. Dù vẫn còn phải chờ nghị định hướng dẫn chi tiết để xem quy trình quản lý ngân sách sửa đổi có bịt được những lỗ hổng như hiện nay hay không. Tuy nhiên, như nhiều ý kiến đã chỉ ra, những giải pháp kỹ thuật, thông qua xiết chặt quy trình, chỉ có thể xử lý được những vi phạm, nhưng tính hiệu quả của chi tiêu ngân sách là thứ mà quy trình kỹ thuật không ‘xử’ được. Tâm lý xài của công hoang phí như xài ‘tiền chùa’ của công chức, những hành vi trục lợi từ ngân sách có thể dễ dàng qua mặt các quy trình[3]. Do đó, lời giải tối hậu cho trách nhiệm quản lý ngân sách trước hết phải là trách nhiệm chính trị. Chỉ khi những người, trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát và sử dụng tiền thuế của dân một cách thiếu trách nhiệm phải trả giá bằng chính số phận chính trị của họ từ lá phiếu cử tri hoặc thông qua những người đại diện thực chất của cử tri, lúc đó tính hiệu quả về mặt lâu dài của những quyết định chi tiêu mới có thể được cân nhắc kỹ lưỡng. Hơn thế nữa, giám sát từ báo chí, truyền thông và từ các tổ chức xã hội dân sự là cơ chế bổ trợ hiệu quả từ bên ngoài cho cơ chế giám sát ngân sách từ trong hệ thống. Tuy nhiên, các công cụ giám sát này, suốt thời gian dài vừa qua chưa có được môi trường phù hợp để thực thi các chức năng quan trọng của nó.

Bài toán ngân sách, vì thế không phải là câu chuyện riêng của Chính phủ hay Bộ tài chính. Bài toán ngân sách cũng chính là bài toán thể chế. Chờ cho những con sóng ngầm thành sóng thần, hay tiếp tục trì hoãn cải cách vì ‘tình hình chưa đủ xấu’?

[1] Xem: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/hang-loat-nha-may-ethanol-pha-san-vi-cong-nghe-trung-quoc-20160402222221932.htm

[2] Xem: http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/294687/nha-may-thep-8-000-ty-dai-du-an-10-nam-hoang-tan.html

[3][3] Xem thêm: http://www.thesaigontimes.vn/137333/Khi-co-quan-nha-nuoc-gianh-nhau.html

Chính phủ “kiến tạo phát triển’ và phép thử “Hoa Sen”

Chính phủ và những câu hỏi từ Hoa Sen

Vụ việc Tập đoàn Hoa sen đề xuất kế hoạch xây dựng tổ hợp sản xuất thép ở Cà Ná, Ninh Thuận – ngay giữa thời điểm mà thảm họa môi trường gây ra bởi Formosa vẫn còn chưa được giải quyết xong – đã trở thành tâm điểm của dư luận. Trong khi người dân và nhiều chuyên gia bày tỏ quan ngại về rủi ro môi trường, chính quyền Ninh Thuận lại thể hiện sự ủng hộ tuyệt đối dành cho Hoa Sen, thông qua việc đề xuất một loạt ưu đãi ‘khủng’ cho dự án này. “Bóng’ giờ đang nằm trong chân Chính phủ. Nhưng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng cho số phận dự án, một loạt vấn đề chính phủ cần cân nhắc.

Thứ nhất là hiệu quả kinh tế và khả năng tạo việc làm. Một tiêu chí đúng đắn mà chính phủ đưa ra cho việc đánh giá các dự án gần đây là số lượng việc làm mà dự án tạo ra. Với dự án này, Hoa Sen hứa hẹn rằng dự án hoàn thành sẽ tạo ra 45.000 lao động cho địa phương. Xét từ góc độ tỉnh Ninh Thuận, đó là một con số hấp dẫn. Nhưng chính phủ, với tư cách phục vụ lợi ích quốc gia, còn cần nhìn cả khả năng tạo việc làm của cả ngành và lan tỏa ra toàn nền kinh tế, chứ không phải là một dự án riêng biệt. Ở khía cạnh này, các nghiên cứu kinh tế đều cho thấy rằng, thép không phải là ngành tạo ra ảnh hưởng lan tỏa cao đến nền kinh tế và việc làm. Do vậy thay vì dùng ưu đãi từ nguồn lực công (cụ thể ở đây là ưu đãi thông qua đất đai, nước, điện được trợ giá) cho Hoa Sen nói riêng, và ngành thép nói chung, liệu có nên dùng ưu đãi cho các ngành sản xuất khác có thể tạo ra nhiều việc làm lớn là ngành thép?

Thứ hai là hai là những hứa hẹn về khoản thuế Hoa Sen có thể đóng góp cho ngân sách địa phương. Cần phải có những tính toán kỹ lưỡng hơn về lập luận này. Bởi ngay chính Hoa Sen tiết lộ, mục tiêu lâu dài của dự án là xuất khẩu thép chứ không chỉ là giới hạn trong thị trường trong nước. Vậy một loạt ưu đãi rất lớn từ phía Nhà nước – từ các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như trợ cấp năng lượng (điện) nước, vốn vay ưu đãi. Cần phải xem xét đến khả năng Hoa Sen có bị kiện bán chống phá giá khi xuất khẩu không. Sản phẩm thép trung quốc đang bị kiện chống bán phá giá ở nhiều nước. Nếu Hoa Sen rơi vào hoàn cảnh tương tự; khả năng lợi nhuận, cũng như rủi ro thua lỗ của Hoa Sen thế nào ? Bởi nếu không có lợi nhuận thì lấy đâu ra tiền để Hoa Sen đóng thuế thu nhập Doanh nghiệp. Vì thế, khả năng về lâu dài Hoa Sen có thể góp phần tăng nguồn thu từ thuế cho địa phương vẫn cần được tính toán kỹ lưỡng hơn.

Thứ ba, bài toán kinh tế của Hoa Sen cần đặt được trong bối cảnh phát triển chung của toàn vùng – đặc biệt là xét trên tương quan thế mạnh du lịch biển của vùng này. Chi phí và lợi ích giữa Thép và Du lịch cần được tính toán tổng thể, không chỉ riêng cho Ninh Thuận mà cần xem xét cả Khánh Hòa và Bình Thuận, Vũng Tàu.

Thứ 4 là yếu tố công khai mình bạch trong việc thu hút và ưu đãi đầu tư. Chính phủ mới đã tuyên bố rất rõ ràng và nhất quán về việc xây dựng môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch. Vì vậy, dù có chấp thuận hay không chấp thuận dự án của Hoa Sen, quá trình đánh giá và phê duyệt này cần được thông tin đầy đủ và minh bạch đến người dân và doanh nghiệp khác. Cần nêu rõ được vì lý do gì Hoa Sen được chọn? Có sự cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác không, hay Hoa Sen là nhà đầu tư duy nhất? Câu chuyện các doanh nghiệp lớn, bắt tay, thậm chí là ‘đi đêm’ với các cơ quan quyết định chính sách – hay ‘chủ nghĩa thân hữu’ như cách gọi của giới chuyên gia – vốn đã trở thành vấn nạn nhức nhối của 2 nhiệm kỳ chính phủ trước. Do đó, nếu không minh bạch trong câu chuyện Hoa Sen – niềm tin vào chính phủ mới có nguy cơ tiếp tục bị xói mòn.

Và cuối cùng, cũng là vấn đề quan trọng nhất: quan ngại về vấn đề môi trường,  không chỉ cho riêng Ninh Thuận mà là toàn bộ khu vực Nam Trung Bộ. Vấn đề này, có lẽ không cần phân tích thêm, bởi bài học từ Formosa với toàn bộ khu vực Bắc Miền Trung đã là quá rõ ràng. Xét về cơ sở khoa học, chuyên gia Vũ Quang Việt đưa ra một phân tích đáng chú ý: nếu đưa chi phí về môi trường vào dự án thì hầu các doanh nghiệp thép khó có lãi. Còn nếu doanh nghiệp thép có lãi chắc chắn môi trường bị hủy hoại[1]. Nếu chọn Thép, chỉ Hoa Sen có lãi, và tỉnh Ninh Thuận có ‘thành tích’ – còn chi phí cao hơn nhiều, sẽ chia đều và đổ lên đầu toàn bộ người dân.

 

Hoa Sen và mục tiêu phát triển bền vững của Chính phủ

Vượt ra ngoài những vấn đề kỹ thuật nêu trên, Hoa Sen thực sự là một phép thử với chính phủ mới. Bởi qua cách Chính phủ xử lý bài toán Hoa Sen, người dân và doanh nghiệp sẽ có cơ hội kiểm chứng trên thực tế việc thực thi các tuyên bố và cam kết cải cách mà chính phủ đã nhiều lần đưa ra.

Xét từ góc độ chính quyền địa phương, việc Ninh Thuận đề xuất những ưu đãi khủng dành cho Hoa Sen là có thể hiểu được. Sức ‘cám dỗ’ của lời hứa hẹn về hàng chục nghìn việc làm; hàng chục nghìn tỷ thu ngân sách, con số tăng trưởng GDP vùng cao hơn hàng chục ‘tỉnh bạn’ thì thật khó mà cưỡng lại được với một tỉnh nghèo như Ninh Thuận – điều cũng từng xảy ra với Hà Tĩnh trong câu chuyện Formosa. Nhưng đứng ở góc độ Quốc gia, Chính phủ cần dũng cảm nói không với GDP ‘bẩn’ – đúng như cam kết ‘không đánh đổi tăng trưởng lấy môi trường’ của cá nhân Thủ tướng.

Cá nhân tôi cho rằng, Chính phủ, ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ đã lựa chọn đúng đắn – cải cách môi trường kinh doanh và phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước. Môi trường kinh doanh thông thoáng và minh bạch là yếu tố quan trọng hàng đầu để phát triển doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế,  chứ không phải là những ưu đãi về đất đai, vốn, hay tài nguyên. Nói không với những ‘dự án tỷ đô’ đầy cám dỗ và cũng đầy rủi ro ô nhiễm đồng nghĩa với việc chấp nhận GDP sẽ tụt giảm trong ngắn hạn. Nhưng lợi ích mang lại bởi sự lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp, bởi phát triển bền vững sẽ lớn lao hơn nhiều trong dài hạn.

Tôi tin rằng, người dân và doanh nghiệp chắc chắn đủ sáng suốt để ủng hộ chỉnh phủ lùi một bước trong cái gọi là ‘thành tích tăng trưởng’ để tiến những bước dài hơn trên con đường phát triển về sau.

[1] http://www.thesaigontimes.vn/149047/Thi-truong-thep-va-Formosa.html

 

Sửa Luật Phòng chống tham nhũng – thiếu thuốc hay thừa thuốc ?

Dự án Luật phòng chống tham nhũng đang được xem xét sửa đổi. Kiểm soát tài sản của quan chức, có thể nói là vấn đề trung tâm được thảo luận trong lần sửa đổi lần này.

Ông Nguyễn Đình Quyền, Viện Trưởng viện Nghiên cứu lập pháp, được báo chí tường thuật, cho rằng kiểm soát tài sản và thu nhập phải là điều kiện tiên quyết để chống tham nhũng. Nhưng bản thân ông cũng tỏ rõ băn khoăn với hiệu quả của công tác này hiện nay khi chỉ rõ việc kê khai tài sản theo cách hiện nay ‘chẳng để làm gì” !!![1].

Kê khai nhưng ai giám sát? Chuyện ở Hoa Kỳ

Chủ đề kiểm soát tài sản tiếp tục được ông Quyền nêu ra trong buổi trao đổi về kinh nghiệm chống tội phạm tham nhũng và rửa tiền giữa bà Alyson Kay Duncan, thẩm phán tòa phúc thẩm Liên Bang của Hoa Kỳ với Viện Nghiên cứu Lập pháp diễn ra ở Hà Nội gần đây.

Thay vì diễn giải pháp luật Hoa Kỳ, bà Thẩm phán kể lại câu chuyện của chính cá nhân bà. “Tôi có một người bạn thân là luật sư. Mỗi khi đi ăn trưa với nhau, dù là bạn bè thân thiết từ lâu, tôi vẫn luôn luôn tự trả phần hóa đơn của mình, dù phần tiền là nhỏ. Đó là yêu cầu bắt buộc của đạo đức nghề nghiệp, để tránh những xung đột lợi ích có thể xảy ra’.

Bổ sung cho câu chuyện của bà Duncan, ông bí thư chính trị của Sứ quán Hoa Kỳ cũng nhắc lại câu chuyện kê quà tặng của tổng thống Obama trong chuyến thăm vừa rồi. Suốt tuần lễ sau khi tổng thống rời đi, sứ quán Mỹ vất vả ‘ngập trong giấy tờ’, khi phải thống kê lại chi tiết toàn bộ số quà tặng mà các cơ quan, cá nhân Việt Nam đã tặng cho Tổng thống – “kể cả phần bún chả mà Tổng thống ăn tối, dù được miễn phí, nhưng chúng tôi vẫn phải kê khai vào’ – ông kể.

Sự chặt chẽ đó không phải không có lý do – việc kê khai tài sản và quà tặng là yêu cầu bắt buộc. Báo chí, cũng như mọi công dân và tổ chức ở Mỹ có quyền yêu cầu văn phòng Tổng thống phải cung cấp toàn bộ thông tin về thu nhập, tài sản. Không kê khai, kê khai thiếu đều là vi phạm quy định về hành xử của công chức và có thể gặp rắc rối lớn – từ soi mói của Đảng đối lập; báo chí, dư luận, và kể cả với các cơ quan tư pháp.

Nhìn vào vụ việc bà Hilary Clinton khốn đốn thế nào do sử dụng email cá nhân trong công việc, có thể hiểu được vai trò giám sát từ bên ngoài hệ thống chính quyền đối với việc tuân thủ pháp luật của chính trị gia và công chức ở Hoa Kỳ quan trọng đến thế nào.

Vai trò của báo chí, của xã hội dân sự trong việc giám sát quan chức và cơ quan công quyền nhiều lần được bà Duncan cũng như đại diện sứ quán Hoa Kỳ nhấn mạnh. Bà cho rằng, các cơ chế kiểm soát quyền lực nội bộ trong hệ thống nhà nước – tức chế ước và kiểm soát chéo giữa ba nhánh quyền lực Lập pháp – Hành pháp – và Tư pháp, là chưa đủ. Báo chí, truyền thông, các hiệp hội nghề nghiệp với khả năng điều tra của mình, thực tế đã đóng vai trò không nhỏ trong việc phát hiện, thúc đẩy, giám sát việc xử lý nhiều vụ việc phạm tội, trong đó có tội phạm tham nhũng của giới chính trị gia.

Kê thuốc chống tham nhũng – toa thuốc đang thiếu hay thừa ?

Ông Nguyễn Đình Quyền, nguyên là phó chủ nhiệm của Ủy ban Pháp Luật khóa trước, cho rằng dự thảo luật đang bốc nhầm thuốc.

Đại biểu quốc hội Nguyễn Sỹ Cương, trong góp ý của mình về dự thảo luật nêu quan điểm  chưa cần sửa luật mà quan trọng hơn, hãy thực hiện đúng các quy định của nó. Ông bày tỏ: “có quá nhiều quy định chúng ta đưa ra nhưng có thực hiện đâu. Kê khai tài sản mà chỉ công khai nội bộ rồi đóng dấu mật thì làm sao có minh bạch, kê khai xong đút ngăn kéo thì để làm gì”

Có thể nói, 2 câu chuyện từ các vị khách Hoa Kỳ hàm chưa những gợi ý quan trọng cho các vấn đề mà ông Quyền và đại biểu Cương nêu lên. Theo đó, vai trò giám sát của báo chí, của người dân và các tổ chức xã hội là cực kỳ quan trọng. Kê khai, nhưng không công khai cho truyền thông, cho người dân được giám sát thì khó lòng phát hiện và xử lý được tài sản bất minh. Và phát hiện rồi mà cán bộ tham nhũng không bị xử lý, không phải chịu trách nhiệm chính trị thì cả kết quả của một tiến trình trước đó cũng trở thành vô nghĩa.

Tiếp cận toàn diện trong việc đối phó với tham nhũng

Nhìn xa hơn, các thảo luận về việc xem xét lại trọng tâm của vấn đề đối phó với tham nhũng, vượt ra ngoài khuôn khổ Luật Phòng chống tham nhũng là cần cân nhắc.

Theo đó, đề xuất như việc xem xét có cần sửa đổi Luật như đại biểu Cương nêu lên hợp lý trong bối cảnh Việt Nam. Quốc hội, thay vì sửa luật, có nên dành nguồn lực đó cho việc thực hiện tốt vai trò giám sát quyền lực của cơ quan hành pháp?  Các quy hoạch, giấy phép, các dự án, các công trình ‘nghìn tỷ’, các chương trình mua sắm và sử dụng công sản – vốn là mảnh đất màu mỡ của tham nhũng quy mô lớn – đang rất cần vai trò giám sát của Quốc hội.

Cả thực tiễn và nghiên cứu lý thuyết đều khẳng định, nếu luật pháp rõ ràng, dễ hiểu, được giản lược hóa; thủ tục hành chính được tinh gọn, tiếp xúc giữa doanh nghiệp, người dân với chính quyền được giảm bớt – đó là phương cách hiệu quả nhất để chống tham nhũng từ gốc rễ. Những điều luật chống tham nhũng có hay ho, chặt chẽ đến đâu, cũng không thể hiệu quả bằng việc giảm đi mảnh đất tạo cơ hội cho tham nhũng. Vì thế, thay vì đầu tư nguồn lực cho một luật chống tham nhũng mới, Quốc hội có thể xem xét để ưu tiên cho cải cách pháp luật kinh doanh, đầu tư theo hướng giản dị hóa luật lệ và các thủ tục hành chính đi kèm. Phát hiện và loại bỏ được những ‘thông tư to như luật’ như Thông tư 20 về Xuất nhập khẩu Ô tô hay Nghị Định 109 về Xuất khẩu gạo – những văn bản quy phạm pháp luật đang đẻ ra ‘xin cho’ và ‘giấy phép’, chắc chắn sẽ có hiệu quả thực chất trong chống tham nhũng hơn nhiều so với tiếp tục ‘sản xuất’ ra các điều luật mới.

Và quan trọng hơn, như kinh nghiệm của Hoa kỳ và nhiều nước phát triển khác cho thấy, việc chống tham nhũng, không thể là ‘việc nội bộ’ của hệ thống Nhà nước và Đảng cầm quyền. Quyền lực thường gây ra tham nhũng. Quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng cũng tuyệt đối[2]. Nhưng để kiểm soát quyền lực, bản thân việc chế ước và kiểm soát quyền lực trong nội bộ bộ máy nhà nước mới chỉ là điều kiện cần. Giám sát từ bên ngoài, thông qua báo chí, truyền thông và xã hội dân sự là mới là điều kiện đủ.

[1] Xem http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20160826/du-an-luat-phong-chong-tham-nhung-dang-boc-nham-thuoc/1161124.html

 

[2] Quan điểm của Lord Acton, triết gia người Anh