Khu vực phi chính thức – nhìn từ góc độ lao động

Trong các báo cáo kinh tế vĩ mô, ngay sau khi những con số tăng trưởng GDP ấn tượng xuất hiện, như một quy luật, liền sau đó sẽ là những con số hoành tráng về thành tích xuất khẩu, về thu hút đầu tư nước ngoài. Những dòng tin kinh tế trên mặt báo thường ngày cũng không khác là bao, những tập đoàn, công ty lớn luôn tràn ngập mặt báo. Ít người nhận ra rằng, Việt Nam thay da đổi thịt hàng ngày, một phần quan trọng là nhờ vào kinh tế cá thể. Đóng góp này đặc biệt thể hiện rõ trên phương diện tạo việc làm.

Vai chính

Nhìn vào cấu trúc thị trường lao động tại Việt Nam năm 2014(1), trong khi “điểm sáng” về xuất khẩu – khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), hay khu vực được gắn cho vai trò “chủ đạo” – doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chỉ thu hút tương ứng 2 triệu và 1,4 triệu lao động thì nhóm hộ gia đình kinh doanh phi nông nghiệp đang tạo ra 11 triệu việc làm (trong tổng số 52,6 triệu lao động của Việt Nam). Nghĩa là nhóm được gọi là khu vực phi chính thức này tạo ra số lượng việc làm gấp 5 lần doanh nghiệp FDI, gấp 7 lần DNNN – vốn là hai nhóm luôn thu hút sự quan tâm và nhận được ưu đãi nhiều nhất từ Nhà nước.

Quan trọng là vậy, nhưng cũng như cái tên “siêu nhỏ, nhỏ, và vừa” mà chúng được gọi, nhóm này luôn bị thiệt thòi: các chính sách, vốn chưa bao giờ “thân thiện” và “cởi mở’ với nhóm này. Luật Doanh nghiệp 2005 rồi Luật Doanh nghiệp 2014 đều quy định: hộ kinh doanh cá thể sử dụng trên 10 lao động phải chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Lập luận của Nhà nước về lợi ích của việc chuyển đổi có vẻ thật thuyết phục. Đối với người lao động, đó là việc được bảo vệ tốt hơn về quyền lợi. Bởi đồng nghĩa với việc ký hợp đồng lao động chính thức, họ được tiếp cận đầy đủ bảo hiểm xã hội và các phúc lợi khác đi kèm. Làm việc có hợp đồng cũng giúp giảm bớt rủi ro khi xảy ra những tranh chấp về lao động do nhận được sự bảo vệ từ các tổ chức công đoàn. Đối với chủ hộ kinh doanh, một khi trở thành doanh nghiệp, những hứa hẹn lợi ích cũng thật nhiều: có tư cách pháp nhân; được bảo vệ tài sản qua việc chịu trách nhiệm hữu hạn với phần vốn góp và tài sản công ty; chỉ đóng thuế trên phần lợi nhuận thu được; thuận lợi khi chuyển nhượng quyền sở hữu. Đối với Nhà nước, quản lý nhóm chính thức bao giờ cũng dễ dàng hơn nhóm phi chính thức, dù là trong lĩnh vực thuế, môi trường, an toàn hay lao động.

Cần có một chiến lược hỗ trợ lâu dài, tiếp thêm lực đẩy tự nhiên cho quá trình chuyển đổi khu vực phi chính thức thành chính thức chứ không nên là những thúc ép hành chính như hiện nay.

Tuy nhiên, tâm lý “lý tưởng hóa” doanh nghiệp đã khiến các cơ quan nhà nước thúc ép các hộ cá thể phải chuyển đổi bằng biện pháp hành chính hơn là một quá trình chuyển đổi tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của bản thân các hộ. Trong khi đó, các chính sách cơ bản hiện tại đang gây khó hơn là tạo lực đẩy chuyển đổi đến nhóm này.

Nhưng vai yếu

Nhiều chuyên gia cho rằng, các quy định về quan hệ lao động trong khu vực chính thức, gồm thuê mướn, tuyển dụng, sa thải và chấm dứt hợp đồng lao động, đang quá khắt khe và được thiết kế theo hướng nặng về bảo vệ việc làm (hiện có), gây khó khăn nhiều hơn cho người sử dụng lao động (cần lưu ý rằng quy định đang hướng tới bảo vệ việc làm, chứ chưa hẳn là bảo vệ lợi ích cho người lao động). Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OCED), những quy định bảo vệ việc làm này của Việt Nam hiện đang cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn toàn cầu. Theo đó, sau khi Luật Lao động 2014 và Luật Công đoàn 2012 được thông qua, Việt Nam đang nằm trong số những nước có các quy định bảo vệ việc làm khắt khe nhất.

Ở chiều ngược lại, vấn đề đào tạo lao động, một trong những vấn đề khu vực phi chính thức quan tâm nhất, lại không nhận được sự hỗ trợ thích đáng từ Nhà nước. Điểm yếu nhất của khu vực phi chính thức, từ trước đến nay luôn là chất lượng lao động. Những người làm việc trong các hộ cá thể hầu hết là do tự đào tạo, vừa làm vừa học hơn là qua đào tạo nghề ở các trường lớp chính quy. Trong khi đó, lao động có kỹ năng và tính chuyên nghiệp có xu hướng dịch chuyển vào khu vực chính thức, nơi có lương thưởng, điều kiện làm việc và phúc lợi tốt hơn. Với chất lượng lao động như vậy, năng suất lao động trong khu vực này không những không tăng mà còn liên tục giảm trong những năm vừa qua là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, thật khó để yêu cầu các hộ kinh doanh cá thể, cũng như doanh nghiệp nhỏ và vừa tự đầu tư vào việc đào tạo lao động, bởi xác suất mất lao động sau đào tạo là rất cao. Do đó, đào tạo nghề, nhất là đào tạo ngắn hạn, đào tạo gắn với nhu cầu công việc là lĩnh vực mà khu vực cá thể cần nhận được hỗ trợ nhất từ Nhà nước.

Bắt đầu lại

Trên thực tế, đào tạo nghề lại là một trong những khâu yếu kém và thiếu hiệu quả nhất của Việt Nam hiện nay. Sự quan tâm cho đào tạo nghề là có, ngân sách hỗ trợ là lớn, nhưng trong khâu thực thi, các chương trình đào tạo và đối tượng đào tạo gần như tách rời và không phục vụ trực tiếp cho nhu cầu và lợi ích của người sử dụng lao động. Cách tổ chức chương trình, khóa đào tạo như đang thực hiện hiện nay phần lớn chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu “giải ngân cho dự án”, làm lợi cho những trường nghề “thân cận” với những cơ quan ban ngành liên quan, chứ không mang lại nhiều lợi ích cho cả người học nghề lẫn người sử dụng lao động. Thiết kế lại mô hình dạy nghề, trong đó, đặt lợi ích của doanh nghiệp dân doanh vào trung tâm, phục vụ trực tiếp nhu cầu và lợi ích của nhóm này, là yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh hiện nay.

Kinh nghiệm phong phú và những cách làm hiệu quả của thị trường đào tạo ở khu vực tư có thể cung cấp cho việc thiết kế và thực thi các chính sách nhiều bài học hữu ích. Để tăng tính hiệu quả và chất lượng đào tạo nghề của khu vực nhà nước hiện nay, một cơ chế có thể xem xét là đấu thầu và thực hiện theo hợp đồng các dịch vụ đào tạo theo nhu cầu của người sử dụng lao động. Theo đó, các doanh nghiệp tư, cơ sở đào tạo tư tham gia cạnh tranh với khu vực công hiện nay trong các hoạt động đào tạo cho lao động. Nhà nước chi trả các chi phí đào tạo đó cho bên cung cấp dịch vụ đào tạo, miễn là đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, chứ không quan trọng bên cung cấp dịch vụ là công hay tư.

Khu vực phi chính thức, tất nhiên có những điểm yếu cố hữu, đó là tính manh mún và năng suất thấp, là yếu kém trong điều kiện lao động và phúc lợi, nhưng vai trò lớn lao của khu vực này đã được khẳng định. Và với những đặc điểm và bối cảnh Việt Nam, chắc chắn trong thời gian dài sắp tới, khu vực này sẽ vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Do đó, chuyển đổi khu vực phi chính thức thành chính thức, dù là cần thiết, nhưng cần có một chiến lược hỗ trợ lâu dài, tiếp thêm lực đẩy tự nhiên cho quá trình chuyển đổi chứ không nên là những thúc ép hành chính như hiện nay. Để phát triển dài hạn và bền vững, một môi trường vĩ mô ổn định, sự nhất quán về chính sách, môi trường kinh doanh thông thoáng và cạnh tranh, chi phí thủ tục hành chính thấp, quyền sở hữu được đảm bảo, vẫn là những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài nhà nước nói chung.

Advertisements

Hợp pháp hóa kinh doanh cá cược: Cần tiên liệu những hệ quả kinh tế-xã hội

Một khung pháp lý tốt cho kinh doanh cá cược không đồng nghĩa với những thách thức đã được giải quyết.

Với việc dự thảo nghị định về kinh doanh đặt cược cho ba hình thức đua ngựa, đua chó và bóng đá quốc tế đang được gấp rút hoàn thiện, một trong những vấn đề chính sách gây tranh cãi nhất đã được thừa nhận và đưa vào khuôn khổ điều chỉnh của pháp luật.

Khách quan mà nói, hình thành một khung pháp lý chính thức cho các hoạt động cá cược là hướng đi đúng và cần thiết phải làm. Dù cá cược là xu thế không mong muốn – không một chính phủ nào khuyến khích công dân mình cá cược – nhưng đó là một nhu cầu thực tế của một bộ phận người dân, một hoạt động kinh tế mà nếu đặt nó ngoài khuôn khổ pháp luật, Nhà nước không chỉ thất thu một khoản thuế khổng lồ, một bộ phận người dân sẽ bị đặt trước những rủi ro ngầm ẩn và toàn xã hội cũng có nguy cơ gánh những hệ lụy không nhỏ. Bởi thế, sự ra đời của nghị định này là đáng hoan nghênh.

Dường như đón đầu việc hợp thức hóa các hoạt động cá cược này, làn sóng phát triển nóng loại hình kinh doanh cá cược đã lộ diện. Trải dài từ Bắc đến Nam, một loạt dự án đang được khởi động. Ở Hà Nội, Tổng công ty Du lịch Hà Nội và Công ty Global Consultant Network Co.Ltd của Hàn Quốc vừa thỏa thuận thành lập liên doanh xây dựng tổ hợp giải trí, trong đó có trường đua ngựa ở Sóc Sơn. Ở miền Trung, Phú Yên đã cấp giấy chứng nhận đầu tư dự án trường đua ngựa Phú Yên cho Công ty Golden Turf Club Pty Ltd trên diện tích hơn 134 héc ta. Ở phía Nam, Công ty Du lịch Đại Nam cũng đang lên kế hoạch xây dựng trường đua Đại Nam trên diện tích đất 60-70 héc ta.

Sự phát triển “nóng” của hoạt động kinh doanh cá cược có thể tiềm ẩn những bất lợi cho nền kinh tế nói chung, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế – xã hội rất đặc thù của Việt Nam.

Thứ nhất, dòng vốn đầu tư thay vì chảy vào những lĩnh vực sản xuất thực – yếu tố tạo nên nền tảng phát triển bền vững, có thể dịch chuyển sang lĩnh vực có thể tạo ra lợi nhuận cao và nhanh như kinh doanh cá cược. Điều này đã từng xảy ra trong quá khứ, khi dòng vốn ồ ạt chảy vào bất động sản và đầu tư tài chính – và để lại những hệ quả nghiêm trọng cho nền kinh tế đến tận ngày nay. Hơn thế nữa, xu hướng này càng đặc biệt đáng lo ngại ở Việt Nam, nơi mà tham nhũng luôn là vấn đề nghiêm trọng. Nguồn tiền phi pháp từ tham nhũng hoàn toàn có thể chảy vào những dự án dạng này – trở thành một phương thức “rửa tiền” hợp pháp để biến “tiền bẩn” thành “tiền sạch”.

Hợp thức hóa kinh doanh cá cược là bước đi cần thiết. Nhưng tiên liệu những hệ quả kinh tế – xã hội, từ đó có đối sách hợp lý tiếp tục là bài toán đang đặt ra cho các cơ quan xây dựng và thực thi chính sách hiện nay.

Thứ hai, các dự án trường đua thường sử dụng quỹ đất lớn, tiềm ẩn nguy cơ gây thêm căng thẳng cho quá trình chuyển đổi đất đai hiện nay. Các địa điểm giải trí thường không thể xây dựng quá xa khu trung tâm. Mặt khác, ai cũng biết không doanh nghiệp nào chỉ đơn thuần xây dựng trường đua mà không phát triển các dịch vụ bất động sản đi kèm với nó. Trong khi đó, vùng ven các đô thị thường là đất nông nghiệp, với diện tích nhỏ và thuộc về một số lượng lớn các chủ sở hữu cá thể.

Quá trình thương lượng giữa các doanh nghiệp và các chủ đất đơn lẻ, về mặt pháp lý phải được thực hiện theo tiến trình dân sự giữa hai bên. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp, để lấy được đất nhanh hơn, cũng như với chi phí thấp hơn, thường bắt tay với chính quyền địa phương để chính quyền đứng ra thu hồi đất. Việc sử dụng quyền lực hành chính thường dẫn đến thua thiệt cho người dân. Hiếm khi giá trị đất đai được đền bù thỏa đáng theo giá thị trường và trên cơ sở thỏa thuận bình đẳng, minh bạch. Đây là nguồn cơn của phần lớn những vụ kiện cáo phức tạp về đất đai, gây ra những căng thẳng giữa người dân với chính quyền, người dân với doanh nghiệp như đã thấy trong suốt thời gian qua.

Tất nhiên, những nguy cơ dạng này phổ biến với mọi hoạt động kinh tế cần đến đất đai; tuy nhiên với xu hướng gia tăng đáng quan ngại của các mối quan hệ thân hữu ở giữa doanh nghiệp và chính quyền, giữa quan chức và các doanh nghiệp sân sau, cũng như đặc điểm dòng tiền phi pháp từ tham nhũng nói trên, vấn đề đất đai cho các trường đua và dịch vụ đi kèm sẽ càng thêm nghiêm trọng. Hơn thế nữa, bởi những hệ lụy xã hội khác, các trường đua nếu được cho phép mở tràn lan, còn ngầm ẩn nhiều vấn đề hơn cả các sân golf – vấn đề mà Việt Nam trước đây từng vất vả giải quyết.

Với những lý do nêu trên, các cơ quan quản lý cần tiếp tục thận trọng trong việc giám sát sự phát triển của các loại hình kinh doanh cá cược, đặc biệt là các trường đua. Hai giải pháp chính sách cần được cân nhắc để sử dụng.

Thứ nhất, các công cụ kinh tế như thuế cần được áp dụng chặt chẽ. Thuế cao đánh vào các loại hình kinh doanh cá cược sẽ khiến các doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng khi tiến hành kinh doanh. Thuế cao gián tiếp sẽ tác động đến người chơi, qua đó trở thành biện pháp hạn chế một cách hợp pháp những người cá cược.

Thứ hai, với vấn đề đất đai, quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa doanh nghiệp và người dân cần được nghiêm túc thực hiện theo pháp luật. Chính quyền địa phương cần tuyệt đối tránh việc đứng ra thay mặt doanh nghiệp thu hồi đất từ người dân. Bản thân việc doanh nghiệp phải thương lượng trực tiếp với người dân theo giá thị trường; và chi phí gia tăng hợp lý từ quá trình này cũng là một vấn đề khiến các doanh nghiệp cần cân nhắc khi quyết định đầu tư.

Có thể nói, kinh doanh cá cược là các hoạt động kinh tế, dù Nhà nước khuyến khích hay không, bản thân nó vẫn sẽ tồn tại. Vì thế, hợp thức hóa kinh doanh cá cược là bước đi cần thiết. Nhưng tiên liệu những hệ quả kinh tế và xã hội, từ đó có đối sách hợp lý tiếp tục là bài toán đang đặt ra cho các cơ quan xây dựng và thực thi chính sách hiện nay.

Những người trở về từ Gạc Ma

Từ Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, chạy thêm chừng mười cây số theo đường Hồ Chí Minh, là tới Tiểu khu Hữu nghị, Thị trấn Nông trường Việt Trung, huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Chiều tháng mười, nắng nhạt. Xa xa, nhìn về phía tây, những đỉnh núi vươn cao nơi dãy Trường sơn xanh tít tắp. Những vườn cao su xanh ngắt chạy dài bên đường, có những nơi cỏ mọc ngang thân nhưng không người chăm sóc. Những năm rồi cao su rớt giá, công chăm còn nhiều hơn tiền thu được bán mủ. Có lẽ vì thế nhiều chủ vườn, xù xót mấy cũng đành bỏ dở những vườn cây đang đến tuổi thu hoạch.

Anh Lê Văn Dũng đưa chúng tôi ghé vào một căn nhà ven đường – nhà cấp bốn xây chừng được vài năm, nhưng vẫn còn chưa hoàn thiện. Chị Trần Thị Huyên, đón chúng tôi vào nhà. Anh Lê Hữu Thảo, anh Xuân Lộc, anh Huy Đức, Bình và tôi, sau khi thắp xong nén hương cho người quá cố, ngồi quay vòng trên tấm chiếu rộng trải giữa nhà, nghe vợ người cựu binh Gạc Ma quá cố kể lại những năm tháng vất vả sau khi rời quân ngũ của chồng mình.

Chồng chị, cựu binh Gạc Ma Dương Xuân Hường, đã ra đi được gần mười năm. Cũng đồng trang lứa như những cựu binh Gạc Ma khác, anh Hường, sinh năm 1965, nhập ngũ năm 1985, lúc vừa tròn 20 tuổi. Cùng người bạn cùng quê Lê Văn Dũng, cùng lính E83 công binh, cùng xuống con tàu HQ 604 vào tối 11-3-1988.

Mang trong mình vết thương ở đầu sau vụ thảm sát Gạc Ma, anh xuất ngũ về quê. Lập gia đình với chị Huyên. Năm 1991, anh chị có con trai đầu lòng. Nhưng những vết thương không được chữa trị và chăm sóc đầy đủ ngày càng chuyển nặng và biến chứng. Những cơn đau đầu khủng khiếp khiến người cựu binh bình thường vốn hết mực yêu thương vợ con, đến lúc trở bệnh như phát điên, thậm chí đánh cả vợ con mình. Cơn đau đi qua, anh chỉ còn cách căn dặn vợ con những lúc bệnh phát tác, chị cứ bỏ mặc anh, đưa con tạm lánh khỏi nhà.

Mười năm chống chọi với đớn đau thương tật, năm 1997, anh mất, khi cô con gái út vừa hơn một tuổi. Chị Huyên, góa bụa khi tuổi còn chưa đến 30, ở vậy nuôi ba đứa con, con trai lớn nhất lúc đó mới vào lớp 1, con gái thứ hai lên ba, con gái út mới lẫm chẫm biết đi. Vất vả một mình nuôi ba đứa con, đến nay, con trai lớn của chị, học trung cấp công nghệ thông tin, đã ra trường nhưng chưa có công việc ổn định. Con gái thứ hai đang là sinh viên năm thứ 3 một trường cao đẳng ở Đà Nẵng, và cô gái út, vừa vào học trung cấp ngành may. Những món nợ học hành của con, chị vẫn còn chưa trả hết.

Men theo con đường đất đỏ, xuyên qua những vườn cao su xanh um lá, đi sâu về phía bên kia đường Hồ Chí Minh, là nhà anh Lê Văn Dũng, ở xã Tây Trạch, cũng thuộc huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Anh Dũng, sinh năm 1966, vừa học xong lớp 7, anh nhập ngũ, cùng một năm với anh Hường, cùng là lính công binh E83. Sau trận Gạc Ma, anh ra đảo vài chuyến nữa rồi xuất ngũ vào tháng 11 năm ấy, năm 1988. Anh lập gia đình năm 1989, cũng có 3 người con. Và vợ của anh cũng mất ngay sau khi sinh đứa con thứ 3, năm 1999. Giờ anh vẫn ở vậy, làm thuê tạm bợ, đắp đổi qua ngày, chăm sóc cho người chị gái đã lòa hai mắt. Căn nhà anh anh đang sống, đã xây lên nhưng, nhưng tường còn chưa vôi ve, cửa chỉ là một tấm phên che tạm.

Cùng xã Tây Trạch còn một đồng đội Gạc Ma nữa của anh Dũng, anh Dương Văn Lê, đã mất năm 2010. Cũng giống như chị Huyên, chị vẫn một mình làm rẫy, nuôi người cha già và ba đứa con, cháu lớn sinh năm 96, vừa vào đại học, cháu bé đang học lớp 5.

Chuyến đi tháng 10 năm ngoái, chúng tôi còn ghé thăm nhà những cựu binh Gạc Ma năm xưa, nay sống ở Quảng Bình và Hà Tĩnh. Những người anh hùng thầm lặng ngày nào, bỏ áo lính trở về, ngược xuôi vất vả trong cuộc mưu sinh, lặng thầm như hàng trăm nghìn những người lính xuất ngũ khác. Là Hồ Văn Ba, trở lại làm ngư dân bám biển nơi những cồn cát trắng mênh mông vùng quê nghèo Bố Trạch. Ngày 14 tháng 3 năm nay, anh hẳn đã cảm thấy ấm áp và đỡ vất vả hơn, khi có sự giúp đỡ của Nhịp Cầu Hoàng Sa, món nợ 50 triệu đồng vay ngân hàng nhiều năm đã được trả. Căn nhà cấp 4 đã xuống cấp nặng, nay đang được Nhịp cầu Hoàng Sa giúp xây mới lại.

Là anh Nguyễn Văn Thống, người bị thương trong buổi sáng 14 tháng ba, ôm tấm ván tàu trôi dạt trên biển, bị phía Trung Quốc bắt giam suốt ba năm, năm tháng, mười lăm ngày. Anh trở về với tám mảnh đạn trên người và chỉ còn một bên mắt, ba năm sau khi tấm giấy báo tử đã được gửi đến gia đình. Gần ba mươi năm sau cuộc chiến, người thương binh cùng vợ mưu sinh bằng gian hàng xén trước cửa nhà, chưa hết lo âu cho những ngày phía trước.

Là Lê Hữu Thảo, sau nhiều năm tháng lận đận, nay đã ổn định một mái ấm, với cậu con trai đầu lòng Lê Nguyễn Hoàng Sa chưa tròn một tuổi. Là Phạm Xuân Trường, vẫn sống nơi vùng rốn lũ bên hữu ngạn sông Ngàn Phố. Ngày chúng tôi đến, bức tường nơi căn nhà anh ở vẫn hằn nguyên vết bùn cao quá đầu người – dấu vết của cơn lũ vừa đi.

Gạc Ma, cái tên nghe xa xôi, cái tên thậm chí chưa được ghi lấy một dòng, chưa vang lên một lần trong những giờ dạy lịch sử chính thức ở học đường. Những người lính xuống tàu ra Gạc Ma, ra Cô-lin, ra Lan-đao.. ngày nào, tuổi thanh xuân đã đi qua hơn hai mươi năm có lẻ. Nhưng lịch sử, đâu phải chỉ nơi sách giáo khoa; nơi những tượng đài, những lễ lạt tụng ca không dành cho những người đã nằm xuống. Lịch sử còn đó, nơi những con người, một thời áo lính- lính Trường Sơn, lính Hoàng Sa, lính Quảng Trị, lính Vị Xuyên, lính Cộng hòa, lính Cộng sản.. những con người hàng ngày vẫn chạm mặt chúng ta, trên một chuyến xe, giữa một bến tàu,  trong một hàng quán, chung một lối về.

Hà Tĩnh/Quảng Bình tháng 10/2015 – Hà Nội, tháng 3/2016

Sóng ngầm Ngân sách?

Từ chi thường xuyên tăng vọt

Tuần trước, trong chuyến đi công tác vào một xã miền núi ở Bắc Miền trung, chúng tôi có dịp ngồi ăn trưa chung với một nhóm cán bộ xã. Cao hứng câu chuyện, anh công an viên ‘khoe’ tháng rồi anh phải dành gần một tháng tiền lương, để góp phần vào trả tiền tiếp khách của xã cho quán ăn này. Tranh thủ hỏi thêm, bà chủ quán cho biết, đây là ‘quán quen’ của xã, và xã còn nợ bà đến gần trăm triệu.

Câu chuyện nợ nần của các địa phương giờ đã là ‘chuyện thường ngày ở huyện’. Năm ngoái, Thành ủy thành phố Bạc Liêu lùm xùm chuyện tài khoản rỗng không giữa lúc bàn giao nhiệm kỳ, trong khi Thành ủy còn nhiều khoản nợ chưa trả hết. Ở Cà Mau, một chủ quán nhậu khác đòi đốt trụ sở ủy ban một xã, cũng vì cán bộ nợ tiền tiếp khách đến gần 50 triệu.

Những khoản nợ tiền tiếp khách như vừa nêu mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm ngân sách địa phương. Kỷ luật tài khóa ở trung ương vốn đã không chặt chẽ gì, ở địa phương chắc chắn còn lỏng lẻo hơn. Chưa có những tính toán chi tiết hoặc những báo cáo tài chính đáng tin cậy, tuy nhiên, từ quan sát cũng có thể thấy, những cuộc họp hành liên miên, tiếp khách, lễ lạt, kỷ niệm…tăng tỷ lệ thuận với ‘sổ nợ’ của các Ủy ban, cơ quan đoàn thể tại các quán ăn, nhà hàng ở địa phương. Tiền ấy đương nhiên không phải là tiền túi của công chức, mà là từ nguồn chi thường xuyên trong ngân sách trích ra. Hiệu quả của những khoản chi ngốn một phần không nhỏ trong ngân sách nhà nước này thật khó có thể đo lường.

Đến hiệu quả đầu tư công  

Cũng trong thời gian ngắn gần đây, một loạt những dự án do các Doanh nghiệp nhà nước, hoặc doanh nghiệp có nhà nước chiếm cổ phần chi phối, nghĩa là bằng cách này hay cách khác sử dụng gián tiếp tiền từ ngân sách,  bị điểm mặt chỉ tên là thiếu hiệu quả. Đó là bảy nhà máy sản xuất xăng Ethanol, trong đó có 3 nhà máy của Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) nằm đắp chiếu[1]. Là đại dự án nhà máy thép 8000 tỷ của công ty cổ phần gang thép Thái nguyên đang hoang tàn[2]. Danh sách của những nhà máy thua lỗ, những con đường chưa đi đã hỏng, những khu chợ, trung tâm thương mại thưa thớt người buôn bán, kinh doanh, những tượng đài cỏ mọc còn dài và chắc chắn còn đang tiếp tục dài lên thêm nữa …. Tất cả có cùng góp phần cho một ‘thành tích’ – tăng nợ công quốc gia và làm xói mòn tiềm năng phát triển của đất nước.

Và Ngân sách quốc gia

Chi ngân sách hợp thành từ hai cấu phần: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Chưa nói đến chuyện đến chuyện chi thường xuyên nuôi bộ máy nhà nước vận hành tăng vọt, ngốn gần hết chi cho đầu tư; nhìn sâu vào từng mảng đều thấy ngổn ngang các vấn đề. Chính phủ mới được dự báo đang đứng trước những khó khăn gay gắt nhất trong nhiều năm gần đây khi đối mặt với bài toán tài chính như thế. Nhưng lời giải bài toán không nên là tăng thu để bù đắp chi. Giải pháp ‘tăng thu’ thậm chí nhiều ý kiến cho là ‘tận thu’ như hiện nay, thông qua tăng thuế và phí, và giá các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, không phải là giải pháp căn cơ, thậm chí tiềm ẩn nhiều nguy cơ cả về kinh tế và xã hội. Không thể đòi hỏi người dân và doanh nghiệp oằn mình ra để gánh ngân sách, trong khi bộ máy nhà nước vẫn ‘vung tay quá trán’ với kỷ luật tài khóa lỏng lẻo như thế này.

Về mặt ngắn hạn, những giải pháp kỹ thuật đã được đề xuất, với việc thông qua Luật Ngân sách Nhà nước và Luật đầu tư công năm ngoái. Dù vẫn còn phải chờ nghị định hướng dẫn chi tiết để xem quy trình quản lý ngân sách sửa đổi có bịt được những lỗ hổng như hiện nay hay không. Tuy nhiên, như nhiều ý kiến đã chỉ ra, những giải pháp kỹ thuật, thông qua xiết chặt quy trình, chỉ có thể xử lý được những vi phạm, nhưng tính hiệu quả của chi tiêu ngân sách là thứ mà quy trình kỹ thuật không ‘xử’ được. Tâm lý xài của công hoang phí như xài ‘tiền chùa’ của công chức, những hành vi trục lợi từ ngân sách có thể dễ dàng qua mặt các quy trình[3]. Do đó, lời giải tối hậu cho trách nhiệm quản lý ngân sách trước hết phải là trách nhiệm chính trị. Chỉ khi những người, trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát và sử dụng tiền thuế của dân một cách thiếu trách nhiệm phải trả giá bằng chính số phận chính trị của họ từ lá phiếu cử tri hoặc thông qua những người đại diện thực chất của cử tri, lúc đó tính hiệu quả về mặt lâu dài của những quyết định chi tiêu mới có thể được cân nhắc kỹ lưỡng. Hơn thế nữa, giám sát từ báo chí, truyền thông và từ các tổ chức xã hội dân sự là cơ chế bổ trợ hiệu quả từ bên ngoài cho cơ chế giám sát ngân sách từ trong hệ thống. Tuy nhiên, các công cụ giám sát này, suốt thời gian dài vừa qua chưa có được môi trường phù hợp để thực thi các chức năng quan trọng của nó.

Bài toán ngân sách, vì thế không phải là câu chuyện riêng của Chính phủ hay Bộ tài chính. Bài toán ngân sách cũng chính là bài toán thể chế. Chờ cho những con sóng ngầm thành sóng thần, hay tiếp tục trì hoãn cải cách vì ‘tình hình chưa đủ xấu’?

[1] Xem: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/hang-loat-nha-may-ethanol-pha-san-vi-cong-nghe-trung-quoc-20160402222221932.htm

[2] Xem: http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/294687/nha-may-thep-8-000-ty-dai-du-an-10-nam-hoang-tan.html

[3][3] Xem thêm: http://www.thesaigontimes.vn/137333/Khi-co-quan-nha-nuoc-gianh-nhau.html

Ghost-writer và chủ nghĩa cá nhân

Thời gian gần đây, newsfeed trên Facebook của tôi bắt gặp thường xuyên những đoạn quảng cáo về ghost-writer – ‘dịch vụ viết thuê’- mới mẻ đến nổi vẫn cụm từ tiếng anh vẫn chưa được ‘việt hóa’. Nghề chắp bút – công việc giúp biến ý tưởng hay chất liệu ‘thô’ của ‘thân chủ’ thành tác phẩm hoàn chỉnh, dường như đang dần trở thành một ‘nghề’ mới, mà đằng sau nó là những chỉ dấu dịch chuyển đổi xã hội thú vị đang diễn ra từng ngày.

Nếu bạn đến một thành phố phương tây, bước vào nhà sách bất kỳ, kệ sách đầu tiên, được trình bày ấn tượng nhất và hút ánh nhìn trước nhất của bạn, ắt hẳn là những bìa sách mới nhất với gương mặt của những ‘celerbrity’  (người nổi tiếng). Dòng sách tự truyện, hồi ký của ‘người công chúng’ – diễn viên, ca sỹ, ngôi sao giải trí, cầu thủ, chính trị gia, từ lâu đã luôn là con ngỗng đẻ trứng vàng của ngành kinh doanh xuất bản phẩm. Cũng dễ hiểu, chuyện đời tư người nổi tiếng (celebrity) – nghệ sỹ, diễn viên, người mẫu, cầu thủ bóng đá, chính trị gia, doanh nhân …bất kể thời nào, bất kể ở đâu, cũng là nguồn cơn tò mò vô tận của công chúng. Mang tính giải trí cao, dễ đọc với độc giả phổ thông, tự truyện, hồi ký người nổi tiếng, dĩ nhiên luôn ngự trị vị trí mặt tiền của mọi nhà sách.

Nhưng bạn sẽ hỏi, diễn viên, người mẫu, ngôi sao thể thao …, đâu phải ai cũng có khiếu văn chương, để chuyển tải câu chuyện đời ly kỳ của họ lên trang sách? Có cầu ắt có cung, “thị trường’ dịch vụ viết thuê thành hình. Một nghề nghiệp mới ra đời –  ‘ghost-writer’ – những người chắp bút thuê để biến ý tưởng, lời kể, câu chuyện của ‘sao’ thành những cuốn sách thực thụ.

Hà Nội hay Sài Gòn, từ nhiều năm trước đã không hiếm những nhà sách mà sự hào nhoáng trong kiểu cách trình bày lẫn số lượng ấn phẩm không thua kém các nhà sách ở các thành phố phương tây. Chỉ một điểm khác biệt dễ thấy, bước chân vào những nơi đó, chúng ta hiếm khi bắt gặp gương mặt của những ‘người của công chúng’ trên những kệ sách mặt tiền?

Vì sao vậy, con ngỗng đẻ trứng vàng của ngành xuất bản thế giới, sao vắng bóng ở Việt Nam? Đời sống văn hóa giải trí – vốn đã đi vào với xu thế thương mại hóa từ lâu, – ‘thị trường giải trí’ đâu thiếu những gương mặt đình đám? Ở một đất nước chuộng chữ nghĩa, chúng ta đâu có khan hiếm những người ‘chắp bút thuê’? Và người Việt, tâm tính hiếu kỳ cũng đâu có thua kém gì ai? Vậy nên, nếu có một lý do, ắt hẳn là do ‘người nổi tiếng’ còn ngại ngần đưa chuyện đời mình lên trang sách. Bởi một câu chuyện đời, muốn ‘ăn khách’, hẳn nhiên phải ‘thật’. Tất cả những mảng màu sáng tối, những cao cả, đớn hèn, những tốt xấu thị phi, – không thể né tránh mà cần chân thật bày ra trước công chúng. Nhưng chính tại đây, một bức tường vô hình án ngữ, không dễ vượt qua – những định kiến văn hóa đã ăn sâu dài lâu trong tâm thức người Việt – ‘‘tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại’. Những mảng màu xám của đời sống đâu có dễ phô ra, – ‘vạch áo cho người xem lưng’ xưa nay vốn là thứ tối kỵ. Sự khác biệt Đông – Tây, đến đây mới lộ ra mồn một. Phương tây, nơi chủ nghĩa cá nhân đã hình thành và phổ biến từ vài trăm năm nay, sự thể hiện con người cá nhân, – tốt và xấu, hoàn toàn chân thực – là sự bình thường. “Người của công chúng”, do đó không gặp nhiều khó khăn để thể hiện cái tôi vốn có của chính mình. Và công chúng, trong một xã hội quen thuộc tôn trọng con người cá nhân, việc đón nhận những câu chuyện người khác cũng hoàn toàn thoải mái.

Vậy nên, với tôi, việc bắt gặp những mẩu quảng cáo về ‘ghost-writer’ là cả một sự ngạc nhiên thú vị. Và nhìn sâu vào thị trường sách, càng hào hứng hơn, bởi đi cùng với sự manh nha của nghề mới, nghề ‘chắp bút thuê’, một loạt tự truyện và hồi ký, dù chưa nhiều, nhưng lần lượt lên kệ – chỉ dấu cho một con sóng đã thực sự bắt đầu.  Hơn mười năm nhìn lại từ “Lê Vân yêu và sống’ đến “Thương Tín, một đời giông bão’, quả thực là một bước đi dài.

Viết đến đây, những hồi tưởng lan man đưa tôi trở lại với câu chuyện về Phạm Văn Quyến, cậu bé vàng của làng bóng, ‘thần tượng’ của không ít người ở thế hệ tôi. Đó là năm 2003, lúc Quyến ghi bàn duy nhất và Việt Nam quật ngã Hàn Quốc – một chiến thắng ‘không tưởng’ lúc bấy giờ. Trong niềm hân hoan chiến thắng, khi chuẩn bị để trả lời báo chí, những ‘người lớn’ có trách nhiệm ở đội tuyển hỏi anh, một câu cũ rích như “sách giáo khoa” mà họ biết chắc chắn giới phóng viên sẽ hỏi: “Quyến sẽ dành bàn thắng này tặng ai?” Rất thành thật, Quyến trả lời ngay, bàn thắng tặng cho ‘mẹ Niềm’ – người quan trọng nhất trong cuộc đời của anh. Nhưng lập tức, Quyến được ‘gợi ý’ rằng, một bàn thắng đẹp như thế, một chiến thắng vang dội như thế như thế tất nhiên phải dành tặng cho đất nước, cho toàn thể người hâm mộ Việt Nam. Mọi chuyện trong phòng họp báo sau đó đã diễn ra đúng ‘kịch bản’ định sẵn. Báo chí hỏi, và Quyến đáp, ‘bàn thắng dành cho đất nước, cho người hâm mộ’. Những cảm xúc riêng tư và thành thực nhất của Quyến đã phải gác sang một bên – để làm ‘đẹp’ cho tổ quốc, ‘đẹp ‘ cho ‘màu cờ, sắc áo’.

Tôi không ngạc nhiên khi cũng trong khoảng thời gian đó, năm 2005, tự truyện “Lê Vân yêu và sống’ vừa ra đời đã gây sóng gió dư luận. Lê Vân sớm phải hứng chịu nhiều ‘gạch đá’. Quyển tự truyện, mà người chắp bút, là nhà thơ Bùi Mai Hạnh, lần đầu tiên đưa ra trước ‘bàn dân thiên hạ’ những câu chuyện thực rất con người, rất trần trụi với nhiều gam màu tối của một gia đình nghệ sỹ nổi tiếng bậc nhất đương thời.

Dù cuốn sách trở thành một hiện tượng xuất bản, và một loạt nghệ sỹ, được khích lệ bởi người mở đường “Lê Vân”, đã tuyên bố ý định ra ‘tự truyện’ riêng của mình. Nhưng rốt cuộc, họ dần chùn bước. Kể cả khi ‘showbiz’ và thị trường văn hóa‘giải trí thương mại’ thực sự đã hình thành, giới nghệ sỹ không thiếu người ‘sở hữu’ những chuyện đời tư ly kỳ, thậm chí còn ‘hót’ hơn Lê Vân, như ca sỹ Thanh Lam, Thanh Hoa …. Nhưng khi  văn hóa tập thể, chủ nghĩa cộng đồng vẫn còn ngự trị ở vị trí ưu tiên, Con người cá nhân phải chấp nhận lùi xuống. Con sóng ‘tự truyện’, dù có quả bộc phá ‘Lê Vân yêu và sống’ dữ dội mở đường, rốt cuộc đã chưa thể thành hình.

Sự gián đoạn đó kéo dài gần mười năm. Đánh dấu khoảng giữa 10 năm đó, Facebook vào Việt Nam và sớm trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của đa số lớp trẻ Việt. Chẵn 10 năm sau Lê Vân, lại vẫn là một diễn viên khác, Thương Tín, tiếp bước con đường.  “Thương Tín, một đời giông bão’ ồn ào và nặng màu sắc ‘thương mại’, được bởi bút bởi nhà báo – Đinh Thu Hiền. Cũng nhận về không ít tranh cãi thị phi, nhưng giới nghệ sỹ đã không còn chùn bước như mười năm trước. Không phải một mà là một loạt ‘chuyện đời’ người nổi tiếng hối hả lên kệ . Dẫn đầu vẫn là những nghệ sỹ thành danh có đông đảo người ái mộ:  Ca sỹ, diễn viên Ái Vân ra “Để gió cuốn đi”, Nghệ sỹ sân khấu Kim Cương ra “Sống cho người, sống cho mình”. Thành Lộc có “Tâm thành và Lộc đời’ (được  chắp bút bởi nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc ). Từ giới nghệ sỹ, con sóng vươn xa sang những ‘người nổi tiếng’ ở các lĩnh vực khác.  Những học giả, thương nhân… không còn ngại ngần đưa chuyện đời vào trang sách: học giả Trần Văn Khê, doanh nhân thành đạt Lý Quý Trung, nhà báo Chánh Trinh (Lý Quý Chung).. . Hồi ký chính trị, dè dặt và khó khăn hơn nhưng cũng theo bước ‘trình làng’, bằng cách này cách khác, dù không lên được kệ sách vẫn tìm đường tiếp cận độc giả ‘online’.

Đối với tôi, sự phổ biến của dòng sách tự truyện, hồi ký – ở cả hai khía cạnh, sự ‘dũng cảm’ của cá nhân người kể, lẫn sự tiếp nhận đã bớt hẳn khắt khe và định kiến từ người đọc, cho thấy những dấu hiệu khởi sắc của chủ nghĩa cá nhân. Con sóng toàn cầu hóa kinh tế, không biết rốt cuộc có thể, (và nếu có thì đến bao giờ) có đánh sụp những thành trì văn hóa của của chủ nghĩa tập thể hay không. Nhưng ít nhất hôm nay nó đã xói mòn đáng kể những định kiến và nếp nghĩ kéo dài hàng nghìn năm của người Việt.

Tôi tự hỏi, nếu một ngày Quyến viết tự truyện, câu chuyện thăng trầm của đời anh, cả những bàn thắng và khoảnh khắc bùng nổ trái tim của hàng triệu người yêu bóng đá, lẫn những cám dỗ và những ngày đen tối trong vòng lao lý sẽ được kể lại thế nào. Miến là Quyến muốn kể và dám kể, những ‘ghost-writer’ sẽ giúp anh làm việc việc đó. Bao giờ điều đó xảy ra là điều không ai dám chắc. Tôi chỉ dám chắc một điều, nếu ‘cậu bé vàng’ Văn Quyến ngày nào ghi bàn thắng ‘vàng’ hôm nay, trên Facebook cá nhân của anh, bàn thắng đó chắc chắn sẽ được dành tặng người mẹ của mình.

Thị trường hay ‘bàn tay’ Nhà nước – nhìn từ câu chuyện Hàng không

 

Những phát biểu khá khó hiểu của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải gần đây về thị trường vận tải hành khách, trong đó có tương quan phát triển của ngành hàng không sắt, thực sự là đáng quan ngại, nhất là khi đặt trong bối cảnh Chính phủ mới đang thể hiện nỗ lực xây dựng cải thiện môi trường kinh doanh hiện và phát triển kinh tế khu vực tư hiện nay. Quan ngại ở chỗ ‘Chính phủ kiến tạo’ là phân định lại vai trò Nhà nước và thị trường, trong khi đó, diễn ngôn người đứng đầu ngành Giao thông Vận tải lại cho thấy hàm ý về nhu cầu cần tăng cường can thiệp của Nhà nước vào thị trường qua các biện pháp hành chính. Đáng lo hơn, đây không hẳn là những trường hợp cá biệt. Tính phổ biến của những câu chuyện tương tự cho thấy phân định vai trò Nhà nước- Thị trường vẫn là vấn đề đáng bàn.

Thị trường Hàng không, đâu là Nhà nước, đâu là Thị trường?

Tường thuật của Vietnamnet nêu lên những quan ngại của bộ trưởng Trương Quang Nghĩa, cho rằng sự phát triển nóng của ngành hàng không đang làm ‘vỡ’ kế hoạch của các hình thức vận tải khác, đặc biệt là đường sắt. Ông cũng chỉ trích về việc chất lượng phục vụ của hàng không, đặc biệt là hàng không giá rẻ, khi để xảy ra phổ biến tình trạng chậm giờ, trễ chuyến. Giải pháp được đề xuất cho ngắn hạn, đặc biệt là trong dịp tết Nguyên đán sắp tới, là siết lại việc cấp phép bay để giảm số chuyến.

Những lo ngại của ông Nghĩa không sai. Những vấn đề ông nói cũng đã được phản ánh nhiều trong thời gian qua. Nhưng những giải pháp đưa ra lại thuần túy ngắn hạn, can thiệp bằng công cụ hành chính (qua việc cấp phép bay) thay vì khuyến khích các giải pháp để thị trường hàng không tự điều chỉnh. Lựa chọn can thiệp bằng ‘cấp phép’ vừa ngắn hạn vừa có thể làm méo mó thị trường, bởi cấp phép gắn liền với ‘xin – cho’. Trong bối cảnh Việt Nam, xin – cho gây ra hệ quả gì thì đã quá rõ.

Đáng lẽ ra, nên nhìn nhận sự phát triển nhanh chóng của hàng không giá rẻ là xu thế tích cực trong thị trường hàng không, giúp cho thị trường này tăng tính cạnh tranh và chất lượng phục vụ khách hàng. Tiến trình này thực tế đã giúp đáp ứng nhu cầu đi lại thuận tiện và nhanh chóng hơn cho người dân, với chi phí chấp nhận được. Các vấn đề như chậm chuyến hay chất lượng phục vụ thuần túy là quan hệ giữa bên cung cấp dịch vụ – các hãng hàng không với khách hàng của họ. Các bên có thể tự điều chỉnh bằng các quan hệ dân sự và kinh tế chứ không cần tác động bằng quan hệ hành chính.

Thứ nhất, nếu chất lượng phục vụ kém, về lâu dài, hành khách sẽ chuyển sang một hãng hàng không khác, với chất lượng tốt hơn. Khuyến khích cạnh tranh, bằng cách gia tăng số lượng các hãng hàng tham gia thị trường, về dài hạn sẽ giải quyết vấn đề chất lượng. Thứ hai, chuyện các hãng tăng chuyến vô tội vạ, nếu có, và làm chậm giờ của hành khách cũng hoàn toàn có thể điều chỉnh bằng quan hệ dân sự. Theo đó, khách hàng có thể khiếu nại hoặc kiện yêu cầu một hãng bồi hoàn thường cho tổn phí mà hãng hàng không gây ra. Một khi phí tổn thích hợp đặt lên vai các hãng hàng không, và khách hàng được bù đắp thiệt hại, chắc chắn các hãng sẽ phải có kế hoạch khai thác tuyến bay hợp lý nhất về số lượng.  Khi không dễ dàng ‘hưởng lợi’ từ vi phạm ‘hợp đồng’ với từng khách hàng, các hãng sẽ tự phải điều chỉnh mà không cần đến cơ quan quản lý bay ‘siết’ cấp phép. Vấn đề hiện nay là các cơ chế giải quyết khiếu nại để đảm bảo tốt hơn quyền lợi trực tiếp của khách hàng chưa thực hiện tốt chức năng đó. Thủ tục kiện cáo tại tòa thường mất thời gian và chi phí cao. Phân xử tranh chấp thông qua khiếu nại là cách thức dễ dàng hơn, nhanh hơn, ít phí tổn hơn  nhưng hiện nay chưa có một cơ quan đóng vai trò điều tiết (Regulator) phân xử độc lập như vậy.

Thị trường hàng không, cũng như mọi loại thị trường khác sẽ luôn có những khiếm khuyết, nhưng phần lớn những khiếm khuyết này thị trường có thể tự sữa chữa, thông qua cơ chế cạnh tranh. Do đó, vai trò của nhà nước không phải là can thiệp trực tiếp vào những khiếm khuyết ngắn hạn của thị trường mà là thúc đẩy những giải pháp để thị trường phát triển và hoàn thiện. Trong ngành hàng không, vai trò của nhà nước chỉ nên dừng lại ở việc đảm bảo an toàn bay, và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng (cảng hàng không), là những việc khu vực tư nhân không đảm nhận được. Còn lại, chất lượng dịch vụ, xung đột quyền lợi giữa các hãng và khách hàng là những vấn đề của thị trường, nơi quan hệ kinh tế và quan hệ dân sự có thể tự điều chỉnh và giải quyết mà không cần đến bàn tay của nhà nước.

Tiếp tục cải cách để hướng tới kinh tế thị trường đầy đủ

Câu chuyện ngành hàng không cho thấy một vấn đề mang tính nền tảng hơn – đó là hiểu và phân định lại một cách hợp lý ranh giới Nhà nước và thị trường.

Không phải ngẫu nhiên mà Mỹ, các nước khối EU và nhiều nền kinh tế phát triển khác vẫn chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Việt Nam đã cải cách sâu rộng để trở lại hệ thống kinh tế thị trường trong hơn ba mươi năm qua, nhưng khuynh hướng nhà nước can thiệp vào thị trường vẫn còn rất rõ nét. Truyền thống ‘quản lý’ của nhà nước vẫn hằn sâu trong tư duy của những người hoạch định chính sách, của các bộ ngành. Hàng không, như ví dụ vừa phân tích ở trên chưa phải là ví dụ duy nhất. ‘Quản lý’ một cách bất hợp lý của Nhà nước là vấn đề mang tính hệ thống, xuất hiện ở hầu khắp các lĩnh vực. Ở thị trường xuất khẩu gạo, Nghị định 109, với lý do ‘lập lại trật tự’ trong kinh doanh xuất khẩu gạo, đặt ra những rào cản vô lý về kho bãi, về máy xay xát đối với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Ở lĩnh vực du lịch, các yêu cầu về xếp hạng ‘sao’, yêu cầu về ‘ký quỹ’ – đặt ra những gánh nặng chi phí lớn cho doanh nghiệp, dưới danh nghĩa ‘quản lý’ để đảm bảo ‘trật tự thị trường’. Các loại yêu cầu về điều kiện kinh doanh, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, rồi quy hoạch ngành … những can thiệp hành chính vô lý vào những vấn đề mà thị trường tự nó có thể giải quyết có thể thấy trong bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào.

Đáng tiếc, từ phía Chính phủ, các nỗ lực hoàn chỉnh các thể chế thị trường hầu như không đạt được tiến bộ đáng kể sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO. Các nhà hoạch định chính sách đã quá hân hoan và dành quá nhiều ưu tiên cho ‘tự do hóa thương mại’, lấy thu hút FDI và xuất khẩu làm thành tích mà sao nhãng việc hoàn thiện những nỗ lực hoàn chỉnh các thể chế thị trường vẫn còn dang dở – vốn là những vấn đề căn bản tạo nên sự phát triển cho khu vực tư nhân trong nước.

Do vậy, thay vì chờ đợi ‘áp lực’ từ bên ngoài từ TPP đã đổ vỡ, hoàn thiện và đi vào chiều sâu của kinh tế thị trường mới là nên ưu tiên của Việt Nam

Khởi nghiệp Nông nghiệp – Mong chờ một làn sóng

Những ngày cuối năm cũ, giữa tất bật chuẩn bị cho cái tết đang về, tôi nhận được một túi quà đặc biệt từ một người bạn lâu ngày không gặp – một túi ‘rau sạch’ từ trang trại của anh. Đầu xuân, gặp lại anh, niềm vui như nhân đôi khi biết năm rồi chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch của anh vừa khai trương thêm 2 điểm bán hàng mới do anh trực tiếp quản lý và 2 điểm khác được mở theo hình thức nhượng quyền. Không vui sao được, bởi những bạn bè tôi, như anh, sau nhiều năm phiêu bạt làm ăn, sau những thăng trầm với đất đai, với chứng khoán, đang trở về với những giá trị cốt lõi nhất – Nông nghiệp.

Những người độc hành lặng lẽ

Những năm qua, làn sóng khởi nghiệp (start-up) nơi người trẻ mang đến ít nhiều sự hứng khởi, phần nào làm xua đi những u ám về khó khăn và suy thoái kinh tế. Không ồn ào như ‘start-up’ công nghệ, khởi nghiệp trong nông nghiệp mới chỉ là những mạch nước ngầm nho nhỏ và âm thầm chảy. Bởi khởi nghiệp đã vô vàn gian khó. Khởi nghiệp nông nghiệp, làm nông nghiệp chân chính còn vất vả gấp nhiều lần. Dù thực phẩm ‘bẩn’ đã trở thành nỗi ám ảnh trong bữa cơm mọi nhà, nhưng đi kèm đó, niềm tin của người Việt đã bị bào mòn qua bao thử thách, bao xáo trộn xã hội, giữa ma trận thật – giả khó phân. Vì thế, chọn con đường làm nông nghiệp ‘sạch’, kiếm tiền vốn đã ‘không nhanh’ như những công việc khác, công sức bỏ ra còn lớn hơn nhiều. Bởi để đưa được rau quả, trái cây, thịt cá sạch đến bàn ăn từng nhà, họ phải tự tay làm gần như từ A đến Z: tổ chức sản xuất và kiểm soát chất lượng, rồi bảo quản, vận chuyển, rồi mạng lưới bán hàng. Khó thể giao phó, ‘out- source’ cho ‘người ngoài’ được công đoạn nào – vì phải tự kiểm soát hết mới đảm bảo được yếu tố ‘sạch’ trong toàn bộ các khâu. ‘Sạch’ – để từ đó gây dựng niềm tin nơi khách hàng. Một chữ ‘sạch’, gây dựng bằng mồ hôi nhỏ xuống trên bùn đất đồng ruộng, đến mồ hôi và cả nước mắt cho từng túi rau giao, cân thịt. Vì thế, những thành quả bước đầu mà những người khởi nghiệp từ nông nghiệp như anh gặt hái được thật đáng trân trọng biết nhường nào. Bởi đó là thành quả của trách nhiệm và tâm huyết, của sự chịu thương, chịu khó bội phần.

… Và chính sách Nông nghiệp – Nông thôn

Năm rồi, tôi có nhiều dịp chuyện trò với những người làm nông nghiệp và quan tâm đến đời sống nông thôn. Nỗi ưu tư cho nông nghiệp những ngày này có lẽ chưa bao giờ nhiều đến thế. Tái cơ cấu nông nghiệp – chưa chạm đến, chưa nhìn đến doanh nhân, doanh nghiệp như một lực lượng tiềm năng. Nhà nước quan tâm đến nông nghiệp, ưu tiên người nông dân là ‘đúng’, nhưng dường như chưa ‘trúng’. “Chuỗi giá trị’ hay ‘liên kết bốn nhà’ vẫn còn là ‘lý thuyết’ chứ chưa chạm đến phần lõi thực tế. Tư duy của các chương trình phát triển nông nghiệp hay nông thôn mới đang tiếp cận ở một góc tương đối hẹp: người nông dân. Và theo đó, chính sách vẫn chỉ giới hạn ở các khoản hỗ trợ cho sản xuất và nặng về trợ cấp. Trong lúc đó, bối cảnh nông nghiệp hội nhập và cạnh tranh đã thay đổi nhanh chóng. Tiêu thụ sản phẩm, bán được hàng nông sản, và giá trị gia tăng thu được từ sản phẩm trở thành bài toán cốt yếu, chứ không chỉ là ở đầu chuỗi, trong công đoạn sản xuất. Tiếc thay, động lực thật sự, những cái đầu kéo đích thực của phát triển nông nghiệp là doanh nghiệp, lại chưa được được đặt vào vị trí trung tâm trong các thiết kế chính sách. Đã thế, ngay trong lực lượng doanh nghiệp, Chính quyền dường như cũng ưu tiên các doanh nghiệp ‘ông lớn’ chứ ít khi dành sự quan tâm đầy đủ cho những doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Nhìn rộng hơn, câu chuyện nông nghiệp vẫn chỉ được nhìn như bài toán riêng của ngành nông nghiệp – một mảnh ghép riêng rẽ, bị tách rời ra khỏi đời sống nông thôn. Trong khi đó, một cách tiếp cận hợp lý hơn là tổng thể vấn đề Nông thôn lại chưa được quan tâm và định hướng phát triển lâu dài. Nhìn lại chặng đường đổi mới vừa qua, chúng ta chạy theo ‘công nghiệp hóa và hiện đại hóa’ mà sao lãng vấn đề nông nghiệp và nông thôn. Thành thị là điểm đến hào nhoáng và đầy sức hấp dẫn cho những người trẻ may mắn và có cơ hội được học hành bài bản hơn. Nhà máy và khu công nghiệp hứa hẹn những cơ hội việc làm ổn định hơn cho những người trẻ còn lại. Nông nghiệp, ở nhiều làng quê, chỉ còn là nơi ‘ở lại’ của những người ‘không thể ra đi’. Những gì ‘tốt nhất’ của nguồn nhân lực đã chảy vào thành thị và công nghiệp hóa.  Chính sách phát triển ‘phụ họa’ thêm cho xu thế đó. Những ưu tiên và nguồn lực quốc gia được dồn cho ‘công nghiệp’ và thành thị. Nông thôn, không nói khu vực miền núi vùng, kể cả vùng đồng bằng, – trong một gia đoạn dài, vẫn bị chính sách tư duy như đối tượng ‘xóa đói giảm nghèo’ chứ không phải là thế mạnh, động lực phát triển của đất nước.

Chính sách ‘công nghiệp hóa’ chỉ tạo được thành quả hạn chế là những khu công nghiệp, khu chế xuất, ngoài vai trò giải quyết công ăn việc làm cho một lực lượng lao động khá đáng kể, không đưa Việt Nam dịch chuyển lên phía trên của chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu. Sự thất bại của phát triển công nghiệp phụ trợ đã, đang và sẽ tiếp tục kìm hãm Việt Nam nằm ở phần giá trị gia tăng thấp của chuỗi. “Bẫy thu nhập trung bình’, đang hiển hiện chứ không còn là nguy cơ nữa.  Trong bối cảnh đó, Nông nghiệp, một thế mạnh thực thụ của đất nước, hứa hẹn một lối ra. Sự nhanh nhạy của các ông lớn, như Hoàng Anh Gia Lai hay Vingroup, khi ồ ạt bước chân vào nông nghiệp là những chỉ dấu.

Nhưng cũng như thực tế phát triển hơn 30 năm qua đã chỉ ra, Doanh nghiệp nhỏ và vừa mới là thế mạnh, mới là động cơ tăng trưởng phù hợp nhất cho Việt Nam. Điều đó, tôi tin rằng càng đúng trong lĩnh vực nông nghiệp. Đất đai, yếu tố cơ bản cần tính đến đầu tiên của sản xuất nông nghiệp luôn là vấn đề phức tạp, nhạy cảm và hàm chứa nhiều rủi ro của xung đột và tranh chấp. Trong điều kiện thực tế hiện nay, người nông dân hiện đang sở hữu hàng triệu những mảnh vườn, thửa ruộng nhỏ lẻ sẽ dễ dàng tìm được tiếng nói hợp tác và chia sẻ lợi ích với những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một cuộc chơi của thuần tuý những ‘ông lớn’ tiềm nhiều nguy cơ gạt những hộ nông dân cá thể ra ngoài lề phát triển.

Vì thế, những người người làm chính sách cần ‘học’ được những bài học đắt giá của chặng đường ‘công nghiệp hóa’ vừa qua, để biến được doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp thành một động cơ phát triển thực thụ. Các chính sách phát triển nông nghiệp khi xây dựng cần lấy doanh nghiệp nhỏ và vừa làm trọng tâm, làm ưu tiên số một. Chính sách không nên, và cũng không cần là những tập trung vào ưu đãi hay hỗ trợ. Cái doanh nghiệp thực sự cần là một môi trường kinh doanh minh bạch, thông thoáng, được cạnh tranh và đối xử công bằng, được bảo vệ về quyền sở hữu và quyền tài sản. Và xa hơn, quan trọng hơn, nông nghiệp cần được nhìn như một mảnh ghép của Nông thôn; đặt trong bối cảnh của đích đến là một Nông thôn trở thành không gian sống, một môi trường sống có chất lượng, dựa vào nền tảng lao động nông nghiệp bền vững và có thu thập xứng đáng.

Khởi nghiệp nông nghiệp – mong về một làn sóng:

Khi tin tức VinEco (của tập đoàn VinGroup) khai trương khu trồng rau khổng lồ ở Vĩnh Phúc, hay Hoàng Anh Gia Lai mở trang trại hàng ngàn héc ta ở Hà Tĩnh tràn ngập mặt báo, trong tôi trộn lẫn những niềm vui và cả những nỗi lo. Bởi tôi tin rằng, những người trẻ, với những cửa hàng thực phẩm sạch, trang trại hữu cơ với quy mô phù hợp, chứ không phải là những gã khổng lồ như VinEco, mới là những cánh én mang đến một mùa xuân mới cho nông nghiệp nước nhà. Nhưng những người khởi nghiệp âm thầm như bạn tôi liệu có thể trở thành một làn sóng?

Tôi thật sự ước mong một làn sóng khởi nghiệp của những người trẻ – những dòng nước mát mang màu xanh về lại và hồi sinh mảnh đất nông nghiệp bao năm đang ngủ quên. Để những người trẻ, thay vì mong ngóng để ra đi, sẽ trở thành chốn về, thành đích đến,