Chính phủ “kiến tạo phát triển’ và phép thử “Hoa Sen”

Chính phủ và những câu hỏi từ Hoa Sen

Vụ việc Tập đoàn Hoa sen đề xuất kế hoạch xây dựng tổ hợp sản xuất thép ở Cà Ná, Ninh Thuận – ngay giữa thời điểm mà thảm họa môi trường gây ra bởi Formosa vẫn còn chưa được giải quyết xong – đã trở thành tâm điểm của dư luận. Trong khi người dân và nhiều chuyên gia bày tỏ quan ngại về rủi ro môi trường, chính quyền Ninh Thuận lại thể hiện sự ủng hộ tuyệt đối dành cho Hoa Sen, thông qua việc đề xuất một loạt ưu đãi ‘khủng’ cho dự án này. “Bóng’ giờ đang nằm trong chân Chính phủ. Nhưng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng cho số phận dự án, một loạt vấn đề chính phủ cần cân nhắc.

Thứ nhất là hiệu quả kinh tế và khả năng tạo việc làm. Một tiêu chí đúng đắn mà chính phủ đưa ra cho việc đánh giá các dự án gần đây là số lượng việc làm mà dự án tạo ra. Với dự án này, Hoa Sen hứa hẹn rằng dự án hoàn thành sẽ tạo ra 45.000 lao động cho địa phương. Xét từ góc độ tỉnh Ninh Thuận, đó là một con số hấp dẫn. Nhưng chính phủ, với tư cách phục vụ lợi ích quốc gia, còn cần nhìn cả khả năng tạo việc làm của cả ngành và lan tỏa ra toàn nền kinh tế, chứ không phải là một dự án riêng biệt. Ở khía cạnh này, các nghiên cứu kinh tế đều cho thấy rằng, thép không phải là ngành tạo ra ảnh hưởng lan tỏa cao đến nền kinh tế và việc làm. Do vậy thay vì dùng ưu đãi từ nguồn lực công (cụ thể ở đây là ưu đãi thông qua đất đai, nước, điện được trợ giá) cho Hoa Sen nói riêng, và ngành thép nói chung, liệu có nên dùng ưu đãi cho các ngành sản xuất khác có thể tạo ra nhiều việc làm lớn là ngành thép?

Thứ hai là hai là những hứa hẹn về khoản thuế Hoa Sen có thể đóng góp cho ngân sách địa phương. Cần phải có những tính toán kỹ lưỡng hơn về lập luận này. Bởi ngay chính Hoa Sen tiết lộ, mục tiêu lâu dài của dự án là xuất khẩu thép chứ không chỉ là giới hạn trong thị trường trong nước. Vậy một loạt ưu đãi rất lớn từ phía Nhà nước – từ các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như trợ cấp năng lượng (điện) nước, vốn vay ưu đãi. Cần phải xem xét đến khả năng Hoa Sen có bị kiện bán chống phá giá khi xuất khẩu không. Sản phẩm thép trung quốc đang bị kiện chống bán phá giá ở nhiều nước. Nếu Hoa Sen rơi vào hoàn cảnh tương tự; khả năng lợi nhuận, cũng như rủi ro thua lỗ của Hoa Sen thế nào ? Bởi nếu không có lợi nhuận thì lấy đâu ra tiền để Hoa Sen đóng thuế thu nhập Doanh nghiệp. Vì thế, khả năng về lâu dài Hoa Sen có thể góp phần tăng nguồn thu từ thuế cho địa phương vẫn cần được tính toán kỹ lưỡng hơn.

Thứ ba, bài toán kinh tế của Hoa Sen cần đặt được trong bối cảnh phát triển chung của toàn vùng – đặc biệt là xét trên tương quan thế mạnh du lịch biển của vùng này. Chi phí và lợi ích giữa Thép và Du lịch cần được tính toán tổng thể, không chỉ riêng cho Ninh Thuận mà cần xem xét cả Khánh Hòa và Bình Thuận, Vũng Tàu.

Thứ 4 là yếu tố công khai mình bạch trong việc thu hút và ưu đãi đầu tư. Chính phủ mới đã tuyên bố rất rõ ràng và nhất quán về việc xây dựng môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch. Vì vậy, dù có chấp thuận hay không chấp thuận dự án của Hoa Sen, quá trình đánh giá và phê duyệt này cần được thông tin đầy đủ và minh bạch đến người dân và doanh nghiệp khác. Cần nêu rõ được vì lý do gì Hoa Sen được chọn? Có sự cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác không, hay Hoa Sen là nhà đầu tư duy nhất? Câu chuyện các doanh nghiệp lớn, bắt tay, thậm chí là ‘đi đêm’ với các cơ quan quyết định chính sách – hay ‘chủ nghĩa thân hữu’ như cách gọi của giới chuyên gia – vốn đã trở thành vấn nạn nhức nhối của 2 nhiệm kỳ chính phủ trước. Do đó, nếu không minh bạch trong câu chuyện Hoa Sen – niềm tin vào chính phủ mới có nguy cơ tiếp tục bị xói mòn.

Và cuối cùng, cũng là vấn đề quan trọng nhất: quan ngại về vấn đề môi trường,  không chỉ cho riêng Ninh Thuận mà là toàn bộ khu vực Nam Trung Bộ. Vấn đề này, có lẽ không cần phân tích thêm, bởi bài học từ Formosa với toàn bộ khu vực Bắc Miền Trung đã là quá rõ ràng. Xét về cơ sở khoa học, chuyên gia Vũ Quang Việt đưa ra một phân tích đáng chú ý: nếu đưa chi phí về môi trường vào dự án thì hầu các doanh nghiệp thép khó có lãi. Còn nếu doanh nghiệp thép có lãi chắc chắn môi trường bị hủy hoại[1]. Nếu chọn Thép, chỉ Hoa Sen có lãi, và tỉnh Ninh Thuận có ‘thành tích’ – còn chi phí cao hơn nhiều, sẽ chia đều và đổ lên đầu toàn bộ người dân.

 

Hoa Sen và mục tiêu phát triển bền vững của Chính phủ

Vượt ra ngoài những vấn đề kỹ thuật nêu trên, Hoa Sen thực sự là một phép thử với chính phủ mới. Bởi qua cách Chính phủ xử lý bài toán Hoa Sen, người dân và doanh nghiệp sẽ có cơ hội kiểm chứng trên thực tế việc thực thi các tuyên bố và cam kết cải cách mà chính phủ đã nhiều lần đưa ra.

Xét từ góc độ chính quyền địa phương, việc Ninh Thuận đề xuất những ưu đãi khủng dành cho Hoa Sen là có thể hiểu được. Sức ‘cám dỗ’ của lời hứa hẹn về hàng chục nghìn việc làm; hàng chục nghìn tỷ thu ngân sách, con số tăng trưởng GDP vùng cao hơn hàng chục ‘tỉnh bạn’ thì thật khó mà cưỡng lại được với một tỉnh nghèo như Ninh Thuận – điều cũng từng xảy ra với Hà Tĩnh trong câu chuyện Formosa. Nhưng đứng ở góc độ Quốc gia, Chính phủ cần dũng cảm nói không với GDP ‘bẩn’ – đúng như cam kết ‘không đánh đổi tăng trưởng lấy môi trường’ của cá nhân Thủ tướng.

Cá nhân tôi cho rằng, Chính phủ, ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ đã lựa chọn đúng đắn – cải cách môi trường kinh doanh và phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước. Môi trường kinh doanh thông thoáng và minh bạch là yếu tố quan trọng hàng đầu để phát triển doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế,  chứ không phải là những ưu đãi về đất đai, vốn, hay tài nguyên. Nói không với những ‘dự án tỷ đô’ đầy cám dỗ và cũng đầy rủi ro ô nhiễm đồng nghĩa với việc chấp nhận GDP sẽ tụt giảm trong ngắn hạn. Nhưng lợi ích mang lại bởi sự lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp, bởi phát triển bền vững sẽ lớn lao hơn nhiều trong dài hạn.

Tôi tin rằng, người dân và doanh nghiệp chắc chắn đủ sáng suốt để ủng hộ chỉnh phủ lùi một bước trong cái gọi là ‘thành tích tăng trưởng’ để tiến những bước dài hơn trên con đường phát triển về sau.

[1] http://www.thesaigontimes.vn/149047/Thi-truong-thep-va-Formosa.html

 

Advertisements

Sửa Luật Phòng chống tham nhũng – thiếu thuốc hay thừa thuốc ?

Dự án Luật phòng chống tham nhũng đang được xem xét sửa đổi. Kiểm soát tài sản của quan chức, có thể nói là vấn đề trung tâm được thảo luận trong lần sửa đổi lần này.

Ông Nguyễn Đình Quyền, Viện Trưởng viện Nghiên cứu lập pháp, được báo chí tường thuật, cho rằng kiểm soát tài sản và thu nhập phải là điều kiện tiên quyết để chống tham nhũng. Nhưng bản thân ông cũng tỏ rõ băn khoăn với hiệu quả của công tác này hiện nay khi chỉ rõ việc kê khai tài sản theo cách hiện nay ‘chẳng để làm gì” !!![1].

Kê khai nhưng ai giám sát? Chuyện ở Hoa Kỳ

Chủ đề kiểm soát tài sản tiếp tục được ông Quyền nêu ra trong buổi trao đổi về kinh nghiệm chống tội phạm tham nhũng và rửa tiền giữa bà Alyson Kay Duncan, thẩm phán tòa phúc thẩm Liên Bang của Hoa Kỳ với Viện Nghiên cứu Lập pháp diễn ra ở Hà Nội gần đây.

Thay vì diễn giải pháp luật Hoa Kỳ, bà Thẩm phán kể lại câu chuyện của chính cá nhân bà. “Tôi có một người bạn thân là luật sư. Mỗi khi đi ăn trưa với nhau, dù là bạn bè thân thiết từ lâu, tôi vẫn luôn luôn tự trả phần hóa đơn của mình, dù phần tiền là nhỏ. Đó là yêu cầu bắt buộc của đạo đức nghề nghiệp, để tránh những xung đột lợi ích có thể xảy ra’.

Bổ sung cho câu chuyện của bà Duncan, ông bí thư chính trị của Sứ quán Hoa Kỳ cũng nhắc lại câu chuyện kê quà tặng của tổng thống Obama trong chuyến thăm vừa rồi. Suốt tuần lễ sau khi tổng thống rời đi, sứ quán Mỹ vất vả ‘ngập trong giấy tờ’, khi phải thống kê lại chi tiết toàn bộ số quà tặng mà các cơ quan, cá nhân Việt Nam đã tặng cho Tổng thống – “kể cả phần bún chả mà Tổng thống ăn tối, dù được miễn phí, nhưng chúng tôi vẫn phải kê khai vào’ – ông kể.

Sự chặt chẽ đó không phải không có lý do – việc kê khai tài sản và quà tặng là yêu cầu bắt buộc. Báo chí, cũng như mọi công dân và tổ chức ở Mỹ có quyền yêu cầu văn phòng Tổng thống phải cung cấp toàn bộ thông tin về thu nhập, tài sản. Không kê khai, kê khai thiếu đều là vi phạm quy định về hành xử của công chức và có thể gặp rắc rối lớn – từ soi mói của Đảng đối lập; báo chí, dư luận, và kể cả với các cơ quan tư pháp.

Nhìn vào vụ việc bà Hilary Clinton khốn đốn thế nào do sử dụng email cá nhân trong công việc, có thể hiểu được vai trò giám sát từ bên ngoài hệ thống chính quyền đối với việc tuân thủ pháp luật của chính trị gia và công chức ở Hoa Kỳ quan trọng đến thế nào.

Vai trò của báo chí, của xã hội dân sự trong việc giám sát quan chức và cơ quan công quyền nhiều lần được bà Duncan cũng như đại diện sứ quán Hoa Kỳ nhấn mạnh. Bà cho rằng, các cơ chế kiểm soát quyền lực nội bộ trong hệ thống nhà nước – tức chế ước và kiểm soát chéo giữa ba nhánh quyền lực Lập pháp – Hành pháp – và Tư pháp, là chưa đủ. Báo chí, truyền thông, các hiệp hội nghề nghiệp với khả năng điều tra của mình, thực tế đã đóng vai trò không nhỏ trong việc phát hiện, thúc đẩy, giám sát việc xử lý nhiều vụ việc phạm tội, trong đó có tội phạm tham nhũng của giới chính trị gia.

Kê thuốc chống tham nhũng – toa thuốc đang thiếu hay thừa ?

Ông Nguyễn Đình Quyền, nguyên là phó chủ nhiệm của Ủy ban Pháp Luật khóa trước, cho rằng dự thảo luật đang bốc nhầm thuốc.

Đại biểu quốc hội Nguyễn Sỹ Cương, trong góp ý của mình về dự thảo luật nêu quan điểm  chưa cần sửa luật mà quan trọng hơn, hãy thực hiện đúng các quy định của nó. Ông bày tỏ: “có quá nhiều quy định chúng ta đưa ra nhưng có thực hiện đâu. Kê khai tài sản mà chỉ công khai nội bộ rồi đóng dấu mật thì làm sao có minh bạch, kê khai xong đút ngăn kéo thì để làm gì”

Có thể nói, 2 câu chuyện từ các vị khách Hoa Kỳ hàm chưa những gợi ý quan trọng cho các vấn đề mà ông Quyền và đại biểu Cương nêu lên. Theo đó, vai trò giám sát của báo chí, của người dân và các tổ chức xã hội là cực kỳ quan trọng. Kê khai, nhưng không công khai cho truyền thông, cho người dân được giám sát thì khó lòng phát hiện và xử lý được tài sản bất minh. Và phát hiện rồi mà cán bộ tham nhũng không bị xử lý, không phải chịu trách nhiệm chính trị thì cả kết quả của một tiến trình trước đó cũng trở thành vô nghĩa.

Tiếp cận toàn diện trong việc đối phó với tham nhũng

Nhìn xa hơn, các thảo luận về việc xem xét lại trọng tâm của vấn đề đối phó với tham nhũng, vượt ra ngoài khuôn khổ Luật Phòng chống tham nhũng là cần cân nhắc.

Theo đó, đề xuất như việc xem xét có cần sửa đổi Luật như đại biểu Cương nêu lên hợp lý trong bối cảnh Việt Nam. Quốc hội, thay vì sửa luật, có nên dành nguồn lực đó cho việc thực hiện tốt vai trò giám sát quyền lực của cơ quan hành pháp?  Các quy hoạch, giấy phép, các dự án, các công trình ‘nghìn tỷ’, các chương trình mua sắm và sử dụng công sản – vốn là mảnh đất màu mỡ của tham nhũng quy mô lớn – đang rất cần vai trò giám sát của Quốc hội.

Cả thực tiễn và nghiên cứu lý thuyết đều khẳng định, nếu luật pháp rõ ràng, dễ hiểu, được giản lược hóa; thủ tục hành chính được tinh gọn, tiếp xúc giữa doanh nghiệp, người dân với chính quyền được giảm bớt – đó là phương cách hiệu quả nhất để chống tham nhũng từ gốc rễ. Những điều luật chống tham nhũng có hay ho, chặt chẽ đến đâu, cũng không thể hiệu quả bằng việc giảm đi mảnh đất tạo cơ hội cho tham nhũng. Vì thế, thay vì đầu tư nguồn lực cho một luật chống tham nhũng mới, Quốc hội có thể xem xét để ưu tiên cho cải cách pháp luật kinh doanh, đầu tư theo hướng giản dị hóa luật lệ và các thủ tục hành chính đi kèm. Phát hiện và loại bỏ được những ‘thông tư to như luật’ như Thông tư 20 về Xuất nhập khẩu Ô tô hay Nghị Định 109 về Xuất khẩu gạo – những văn bản quy phạm pháp luật đang đẻ ra ‘xin cho’ và ‘giấy phép’, chắc chắn sẽ có hiệu quả thực chất trong chống tham nhũng hơn nhiều so với tiếp tục ‘sản xuất’ ra các điều luật mới.

Và quan trọng hơn, như kinh nghiệm của Hoa kỳ và nhiều nước phát triển khác cho thấy, việc chống tham nhũng, không thể là ‘việc nội bộ’ của hệ thống Nhà nước và Đảng cầm quyền. Quyền lực thường gây ra tham nhũng. Quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng cũng tuyệt đối[2]. Nhưng để kiểm soát quyền lực, bản thân việc chế ước và kiểm soát quyền lực trong nội bộ bộ máy nhà nước mới chỉ là điều kiện cần. Giám sát từ bên ngoài, thông qua báo chí, truyền thông và xã hội dân sự là mới là điều kiện đủ.

[1] Xem http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20160826/du-an-luat-phong-chong-tham-nhung-dang-boc-nham-thuoc/1161124.html

 

[2] Quan điểm của Lord Acton, triết gia người Anh

GDP – Giấy khám sức khỏe hạng siêu sang?

Các bạn trẻ bắt đầu đi làm, nhiều người từng trải qua cảnh đi ‘mua’ giấy khám sức khỏe để cho vào hồ sơ làm việc. Gọi là ‘khám’ nhưng cả bác sỹ lẫn người đi khám đều hiểu rõ mục đích của nhau là gì. Thế nên quy trình cực kỳ nhanh gọn, người khám đảo qua các phòng, bác sỹ ngó nhanh đối tượng một cái, viết lia lịa vào phần nhận xét. Xong. Vẫn đầy đủ các chỉ số, chiều cao, cân nặng, mắt mũi tim phổi. Tổng thời gian ‘khám’ chưa đầy mười phút đồng hồ, bạn được xác nhận là sức khỏe tốt, đáp ứng đầy đủ yêu cầu thể chất cho công việc. Và Bảo hiểm xã hội Việt Nam – tôi nghĩ mãi mới ra cái tên này, có lẽ là nơi duy nhất cần một tờ giấy như vậy.

Câu chuyện khám sức khỏe khiến tôi chạnh lòng nghĩ đến …GDP, bởi xét trên nhiều phương diện, chỉ số vĩ mô phản ánh sức khỏe nền kinh tế đang bị đối xử chẳng khác nhiều lắm với cái giấy khám sức khỏe vừa kể trên.

GDP chạy đi đâu?

Cuối năm 2015, ngay khi Tổng cục Thống kê công bố con số tăng trưởng GDP năm 2015 là 6.7 %, một loạt nhưng nghi ngại được nêu ra. Trong khi giới chuyên gia kinh tế, nhìn vào các thành tố cấu thành GDP* và đặt câu hỏi, tại sao năm ngoái xuất siêu hàng hóa 3 tỷ USD và GDP tăng 5.98% . Năm nay, nhập siêu cao, 3.2 tỷ USD. Thế ắt hẳn phải có sự gia tăng đột biến trong chi tiêu dùng trong nước , chi tiêu chính phủ hay đầu tư thì GDP mới có thể tăng cao như vậy? Nhưng thực tế năm 2015 là là năm ngân sách khó khăn, tỷ lệ bội chi vẫn cao như các năm trước, nhưng con số chi tiêu của khu vực công cũng khó mà tăng đột biến. Đầu tư, ngoài phần gia tăng của khối doanh nghiệp nước ngoài là có, khối trong nước vẫn khó khăn, con số này không lớn. Vậy là có sự đột biến trong tiêu dùng cuối cùng?

Nhưng hơn hết thảy, gạt sang một bên những vấn đề kỹ thuật phức tạp, câu hỏi khiến nhiều người day dứt – Sao con số tăng trưởng ấn tượng là thế, mà nền kinh tế vẫn không thấy khởi sắc hơn là bao? Lợi ích của tăng trưởng đang chạy đi đâu, sao cuộc sống của người dân ít thay đổi? Sao con số thì đẹp, mà Nhà nước vừa đi qua một năm khó khăn, doanh nghiệp khó khăn, và người dân cũng không hơn là mấy?  Vậy tăng trưởng cho ai, và tăng trưởng để làm gì?

Đo lường GDP để làm gì?

Con số GDP, không chỉ riêng của Tổng cục thống kê công bố, mà ngay cả những tính toán của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đưa ra, chưa bao giờ khiến giới chuyên môn hết tranh luận. Năng lực kỹ thuật để tính toán có thể là một vấn đề, nhưng cái cốt lõi, có thể nói, Nhà nước đang ứng xử với GDP như một thứ giấy khám sức khỏe hạng sang. GDP – một chỉ số căn bản để phản ánh sức khỏe nền kinh tế; trên thực tế đã bị sử dụng như một thứ ‘trang sức chính trị’ để hết thảy các cơ quan ban ngành đoàn thể, mỗi dịp cuối năm hay đầu kỳ đại hội lại được lấp lánh trang trọng trưng ra. Vì mục đích sử dụng chỉ như thế, nên khó có thể đòi hỏi ngành thống kê phải làm việc nghiêm túc và khoa học trong quá trình thu thập số liệu, xử lý và tính toán để đi đến con số cuối cùng. Nhưng khoa học, nghiêm túc hay dùng làm gì chưa biết, hàng năm người dân phải đóng thuế cho số tiền khổng lồ cả nghìn tỷ để đổi lấy những con số, mà như nhiều chuyên gia thống kê, gọi là ‘con số chết’- con số không nhiều ý nghĩa.

Tù mù bức tranh nền kinh tế

Mới đây, khi bình luận về những biến động về nền kinh tế Trung Quốc, Kinh tế gia từng đoạt giải Nobel, Paul Krugman trong bài viết đầu năm trên Newyork Times, đã rất dè dặt khi phân tích xem các khó khăn Trung Quốc đang đối mặt trầm trọng ở mức độ nào. Lý do đơn giản là, không thể tin tưởng vào số liệu thống kê do Trung Quốc làm ra. Nhiều chuyên gia kinh tế ở Việt Nam cũng đang lâm vào cảnh tương tự khi đánh giá sức khỏe nền kinh tế nước ta. Một khi GDP là chỉ số gốc, một loạt các chỉ số vĩ mô khác, từ tính toán năng suất lao động, so sánh cấu trúc nền kinh tế, đến đánh giá an toàn nợ công vân vân, đều từ GDP mà ra. Nếu GDP không được đo lường chính xác, mọi thứ khác cũng trở thành tù mù. Hệ quả là, muốn hiểu kinh tế Việt Nam, phương pháp ‘đông tây kết hợp’ đành phải sử dụng. Một mặt vừa xem xét các chỉ số do thống kê nhà nước cung cấp, vừa xem xét các số liệu khu vực tư đưa ra – tức là khám theo kiểu ‘tây y’. Mặt khác, phải ‘bắt mạch’, ‘dò triệu chứng’ xem thực tế kinh doanh của khối tư nhân thế nào, thị trường bán lẻ, sức mua của người dân ở chợ búa ra làm sao. Nhưng kiểu ‘chẩn bệnh’ như thế, làm sao mà kỳ vọng cao vào độ chính xác của nó?

Nói cho cùng giấy giám sức khỏe chỉ là …Giấy khám sức khỏe. Và GDP cũng chỉ là những con số. Đừng vội trách ông bà bác sỹ nào đó, cơ quan thống kê nào đó ‘làm ăn’ thiếu trách nhiệm. Câu hỏi đúng phải là người ta cần nó để làm gì?

 

* Phương pháp tính GDP từ phía cầu, GDP = C (tiêu dùng của hộ) + G (chi thường xuyên chính phủ) + I (đầu tư) + E (xuất khẩu) – M (nhập khẩu).

Jokowi – tổng thống Indo

 

Trong trận bán kết Indo- Việt Nam, trên sân Indo, máy quay rất nhiều lần ghi lại cảm xúc của người này – tổng thống Joko Widodo. Cách bộc lộ cảm xúc của ông rất tự nhiên và nồng nhiệt, hệt như Angela Merkel vẫn thường nhảy cẫng lên mỗi lúc Đức ghi bàn. (lúc Minh Tuấn ghi bàn, bà Nguyễn Kim Ngân ăn mừng bình thường như một fan thực thụ, không ‘diễn’ tý nào’). Jokowi – như tên thân mật người dân Indo gọi tổng thống của họ, vừa được tạp chí Foreign Policy chọn vào danh sách những nhà tư tưởng toàn cầu, sánh vai với bà Merkel.

Lúc học ở Úc, mình cảm tình nhất là với các bạn Indonesia, – những người cởi mở, thân thiện, nhiệt tình. Nói chung là các bạn ấy tiếng anh tốt hơn, học hay làm gì cũng cảm thấy ở level cao hơn một bậc. Lúc đó mình đã cảm nhận có lẽ Việt Nam thua Indosian là hoàn toàn đúng.

Vì cảm tình với Indo, nên mình quan tâm hơn về đất nước này. Khi Jokowi được bầu làm tổng thống vào năm 2014, thật lòng lúc đó thấy mừng cho các bạn và mình tin rằng Indo chắc chắn sẽ thay đổi tích cực dưới nhiệm kỳ của ông.

Jokowi, sinh năm 1961, rất trẻ trung, là tổng thống Indo đầu tiên không xuất thân từ giới quân đội hay các gia đình dòng dõi chính trị nào. Trước khi bước vào con đường chính trị, ông là một doanh nhân kinh doanh đồ gỗ. Gây được cảm tình lớn trong thời gian làm Thị trưởng Solo – một thành phố thuộc tỉnh Jarkarta, từ năm 2005 đến 2012, sau đó là Thống đốc tỉnh này từ 2012 – 2014 (Governor of Jarkarta). Bầu cử nhiệm kỳ 2 thị trưởng Solo, Jokowi thắng đến 90% phiếu bầu. Người dân Indo kỳ vọng sự trẻ trung, ‘sạch sẽ’ của ông sẽ mang lại làn gió mới cho nền chính trị hàng thập kỷ bị lũng đoạn bởi giới Quân sự và các gia đình dòng dõi quyền quý.

GDP của Indo trong 2 năm qua tăng trưởng ở mức xấp xỉ 5%. Và quan trọng hơn là những chính sách mạnh tay trong chống tham nhũng, thúc đẩy dân chủ và quyền con người, Jokowi có lẽ không phụ lòng người dân Indo đã chọn ông.

Thêm một khẳng định cho những chuyển biến tích cực đó,  năm nay Foreign Policy vinh danh ông nhờ hành động tham gia cùng giới học giả, giới hoạt động nhân quyền, và nạn nhân đối thoại về cuộc thảm sát của chính quyền quân sự với những người được xem là thiện cảm với lực lượng Cộng sản vào năm 1965 – chủ đề từng được xem là không thể ‘đụng đến’ ở nước này.

Foreign Policy cũng cho biết một tin ngoài lề thú vị: Jokowi là fan cuồng của nhóm rock Metallica. Một thành viên nhóm này tặng cho ông một cây đàn có chữ ký. Tuân thủ quy định về nhận quà tặng đối với quan chức, và sau đó món quà này được tổng thống trao lại cho ủy ban chống tham nhũng của nước này.

Fan cuồng của hard rock, ăn mừng như bất kỳ một fan bóng đá thường dân trên sân bóng; hành xử chính trị nói đi đôi với làm, mình càng thấy tôn trọng và thích ông này. Thật mừng cho các bạn Indo.

Thông tin tham khảo từ BBC, và Foreign Policy và dữ liệu của WB.

http://www.bbc.com/news/world-asia-28415536

http://www.bbc.com/news/world-asia-28397552

http://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.MKTP.KD.ZG?locations=ID

https://en.wikipedia.org/wiki/Joko_Widodo

Hội đoàn phản biện chính sách- đừng để chuyện đã rồi

Tranh luận xung quanh chuyện hình sự hóa các hoạt động kinh doanh liên quan luật Hình sự 2015 tiếp tục nóng lên. Lần này là quan ngại của giới xuất bản liên quan đến điều 344 về các hành vi trong hoạt động xuất bản được quy định là tội danh hình sự.

Tôi không đi sâu vào khía cạnh pháp lý, nhưng một điểm trong phát biểu của ông Lê Hoàng, Phó chủ tịch hội xuất bản Việt Nam, lại cho thấy rất nhiều vấn đề về chuyện tham vấn, góp ý trong quá trình làm luật hiện này.

Ông Hoàng nói rằng ông đã ở hội Xuất bản được hai năm, cũng là khoảng thời gian luật được soạn thảo. Nhưng trong khoảng thời gian đó, Hội của ông và những người làm nghề xuất bản không ai được hỏi ý kiến về các quy định này. Chỉ đến khi luật ra rồi, tất cả mới hốt hoảng khi thấy quyền và lợi ích trực tiếp của mình bị đụng chạm.

Nhiều năm theo dõi chuyện làm luật của Quốc hội, tôi hoàn toàn chia sẻ với câu chuyện của ông Hoàng. Bởi giai đoạn lấy ý kiến các bên bị tác động bởi luật – một giai đoạn cực kỳ quan trọng trong quy trình xây dựng luật, trước nay vẫn được thực hiện rất kém. Có cả những nguyên nhân do quy trình kỹ thuật, và có cả những nguyên nhân do tính thiếu trách nhiệm của bên soạn thảo; lẫn có trách nhiệm đến từ tính thụ động của chính các nhóm tổ chức xã hội, hội đoàn.

Thứ nhất, xưa nay các bộ ngành soạn thảo thường đưa văn bản dự thảo để góp ý khi nội dung chính sách đã được viết thành quy phạm luật, dưới ngôn ngữ của các điều luật. Phải nói thật, để góp ý được cho văn bản hàng trăm trang, ngôn ngữ thuần túy là chuyên môn pháp lý, các luật sư, các chuyên gia cũng còn toát mồ hôi, nói gì đến người dân bình thường.

Thứ hai, ngay cả đối với các chuyên gia, việc theo dõi góp ý cũng không hề dễ dàng, do ban soạn thảo, trong quá trình làm việc phải thường xuyên cập nhật các bản dự thảo, nhưng họ lại hiếm khi không thông tin rộng rãi những thay đổi này. Trang dự thảo online của quốc hội; và website của bộ ngành, nơi được yêu cầu đăng tải dự thảo luật, thường chỉ đưa lên một, hai bản dự thảo đầu tiên. Còn các dự thảo đã được cập nhật, sửa đổi tiếp theo thì hầu như không được đưa lên web. Thế nên, chuyện chuyên gia, luật sự bị việt vị, vì góp ý trên bản cũ, rồi bị ban soạn thảo ‘giễu’ là chuyện thường.

Thứ 3, các hội đoàn (như Hội xuất bản chẳng hạn), các tổ chức xã hội dân sự đáng lẽ ra là các tổ chức đóng vai trò đại diện cho quyền lợi các nhóm người dân. Họ hiểu rõ quyền và lợi ích, tình hình thực tế và các vấn đề của hội viên. Họ có nguồn lực kỹ thuật, am hiểu chuyên môn để có thể góp ý trong quá trình làm luật. Lý thuyết là thế, nhưng trên thực tế, vai trò các hội đoàn vẫn bị xem nhẹ, ít khi được các cơ quan soạn thảo cung cấp thông tin, hoặc được mời tham gia vào các cuộc họp lấy kiến.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, chính ngay bản thân các hội đoàn, các tổ chức cũng không vô can trong chuyện này. Bởi họ nhiều lúc cũng rất bị động trong câu chuyện tham gia góp ý. Nếu cánh cửa bên phía nhà nước có đóng, đáng ra, họ cần phải chủ động đến gõ cửa và đòi vào, vì quyền được vào là quyền lợi đã ghi vào luật. Đằng này nhiều tổ chức, thấy bên phía Nhà nước khép cửa, họ cũng lẳng lặng lờ đi trách nhiệm đại diện của mình. Sự thụ động đó cho thấy nhiều hội đoàn, hiệp hội hoạt động vẫn còn dáng dấp của một cơ quan hành chính nhà nước chứ chưa phải là một tổ chức thực sự bắt rễ từ nhu cầu của các nhóm người dân.

Tuy nhiên, điều lạc quan là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 đã mở ra một cánh cửa quan trọng để các bên tham gia dễ dàng hơn vào quá trình làm luật. Luật mới phân tách giai đoạn xây dựng chính sách thành giai đoạn riêng – tách khỏi giai đoạn làm quy phạm (viết các điều luật dưới ngôn ngữ pháp lý). Nghĩa là các cơ quan soạn thảo phải đưa ra vấn đề chính sách và giải pháp chính sách trước, tham vấn và giải quyết xong việc soạn chính sách, lúc đó mới chuyển sang giai đoạn quy phạm hóa. Về mặt kỹ thuật, đọc, hiểu và góp ý các nội dung chính sách sẽ thuận lợi hơn rất so với góp ý khi chính sách đã được viết dưới ngôn ngữ quy phạm.

Một cánh cửa nữa, rất cần phải được mở tiếp, đó là Luật về hội – món nợ nhiều năm mà Quốc hội vẫn chưa trả được cho người dân. Một đạo luật thông thoáng và cởi mở về hội cần gấp rút ban hành để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của các tổ chức xã hội dân sự.  Tuy nhiên cũng không thể chờ cửa mở hết,  các hiệp hội, các tổ chức – những người đại diện cho quyền và lợi ích của các nhóm người dân đừng nên ngồi chờ phía Nhà nước mời mới đến. Chính bản thân họ phải chủ động tìm đến, gõ cửa và đòi vào. Nếu không, cảnh luật ra rồi mới bổ ngửa la làng vẫn sẽ tiếp tục diễn ra.

*Bài đã đăng Một thế giới

Bao giờ hết cảnh phát gạo cứu đói người nghèo?

Giữa những ngày giáp tết hối hả, nơi góc ngã tư ken dày người và xe trên đường Trần Hưng Đạo – Phố Huế ở Hà Nội, bất ngờ tôi bắt gặp một xe tải đổ đầy những túi gừng tươi trên lề đường với tấm biểu ngữ in chữ to đập vào mắt: mua gừng của bà con miền núi nhằm ủng hộ bà con đón tết. Gần mười năm trước, lúc còn làm việc cho một tổ chức thiện nguyện quốc tế, tôi từng thực hiện một dự án hỗ trợ cộng đồng người Mông và người Thái ở Kỳ Sơn, Nghệ An phát triển trồng gừng. Nghệ An quê tôi, năm nay tiếp tục là một trong 15 tỉnh ‘xin’ trung ương hỗ trợ gạo cứu đói cho người dân dịp tết. Những ngày giáp tết giữa thủ đô, đi qua xe gừng và tấm biểu ngữ, lòng tôi không khỏi nôn nao những cảm xúc đan xen.

Một năm qua đi, những câu chuyện buồn về người nghèo vẫn chưa thôi day dứt.

 

Tháng 9 năm nay, câu chuyện em học sinh lớp sáu ở Gia Lai tự tử vì mặc cảm nghèo, không có áo mới để đến trường làm nhiều người không khỏi bàng hoàng. Chuyện chưa nguôi, hình ảnh người phụ nữ đã chết được bó chiếu và chở về nhà từ bệnh viện ở Sơn La thêm một khen khiến dư luận xúc động và thương cảm.

Cái chết và thân phận của người nghèo – những người thực sự đang bị bỏ lại phía sau trên con đường phát triển, khiến tôi thực sự băn khoăn nhiều về câu chuyện nghèo đói và công bằng trong tiến trình phát triển ở Việt Nam.

Hơn ba thập kỷ cải cách và phát triển Kinh tế, đất nước đã không còn nằm trong danh sách các nước nghèo, nhưng những nhóm người nghèo vẫn còn đó. Và đáng lo ngại hơn, khoảng cách giữa các nhóm nghèo và nhóm dân cư khác đang ngày càng bị nới rộng hơn.

 

Bất bình đẳng thu nhập nhìn từ những con số

 

Hệ số Ghini – dữ liệu do Ngân Hàng thế giới thu thập, dùng để đo bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia, cho thấy bức tranh về bất bình đẳng ở Việt Nam đã xấu đi trong ba thập niên qua. Tính từ năm 1992, năm chỉ số này bắt đầu được đo đạc đến năm 2012 là năm gần nhất số liệu được công bố, điểm số này đã liên tục tăng thêm – đồng nghĩa với khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư đã mở rộng thêm lên. Nếu năm 1992, Gini là 35.7, năm 2002 là 37.3, và một thập kỷ sau 2012 đã tăng lên 38.7. (GINI càng gần về 0, khoảng cách về thu nhập giữa các nhóm càng nhỏ, và ngược lại, điểm số càng cao, chênh lệch thu nhập càng lớn).

Số liệu từ điều tra mức sống hộ gia đình được thực hiện gần đây nhất của Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2012 cũng cho thấy, khoảng cách thu nhập giữa 20% nhóm thu nhập cao nhất và 20% nhóm thu nhập thấp nhất là gần 10 lần. Một thập kỷ trước đó, năm 2002, chênh lệch thu nhập giữa 2 nhóm là 8 lần. Năm 2017 này, cuộc điều tra mức sống hộ gia đình sẽ được thực hiện. Dữ liệu mới sẽ cho phép tính toán và cập nhật mới hệ số GINI, nhưng tôi nghĩ chắc chắn rằng, hố ngăn cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư sẽ còn tiếp tục nới sâu.

 

Sự gia tăng bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư có thể coi là hiệu ứng phụ không tránh khỏi của tiến trình phát triển kinh tế. Nhưng chính vì lẽ đó, vai trò của Nhà nước trong giảm bất bình đẳng, thúc đẩy phát triển hài hòa càng được lưu ý.  Tuy nhiên, thiết kế chính sách nhằm tái phần phối thu nhập ở Việt Nam, không làm giảm bất bình đẳng, ngược lại đang đào sâu hơn hố ngăn cách này.

 

Ngay từ năm 2007, một báo cáo của Chương trình Phát triển con người của Liên Hiệp Quốc UNDP, thực hiện vào năm 2007, đưa ra một cảnh báo đáng chú ý: “các hộ trong  nhóm 20% có thu nhập cao nhất nhận được gần 40% lợi ích an sinh xã hội. Ngược lại 20% nghèo nhất lại chỉ nhận chưa đến 7%. Điều này có nghĩa là Nhà nước đang trợ cấp cho Người giàu – càng giàu có lại càng nhận được nhiều phúc lợi xã hội từ ngân sách – điều ngược đời so với mọi nguyên tắc về thiết kế và thực thi chính sách công.

Giáo dục, y tế – với rào cản hộ khẩu là ví dụ tiêu biểu về việc cản trở lao động nhập cư từ nông thôn vào thành thị tiếp cận dịch vụ công.  Sự bất hợp lý rất rõ ràng: công nhân, lao động nhập cư – những người thu nhập thấp, con em họ phải đi học ở nhà trẻ tư, trường tư với học phí cao. Trong khi đó, con em nhóm khá giả hơn, có hộ khẩu thì phần lớn học trường công, đồng nghĩa với việc nhận phần hỗ trợ nhiều hơn từ ngân sách nhà nước. Tương tự là chuyện sử dụng điện. Người thuê nhà ở thành phố đóng tiền điện cao hơn các hộ dân đô thị khác dù họ dùng điện ít hơn. Lý do là họ dùng một công tơ chung, và do đó, khi áp dụng thang giá điện lũy tiến, nhóm này phải trả nhiều tiền hơn. Trong khi điện ở Việt Nam đang được trợ giá, nhóm khá giả, như vậy được hưởng lợi kép: được bao cấp nhiều hơn từ giá cả lẫn số lượng điện năng tiêu thụ theo khung tính lũy tiến.

Việt Nam luôn được đánh giá là một trong những nước dành chi tiêu ngân sách lớn cho giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội. Xét về tỷ lệ, con số này còn lớn hơn nhiều so với các nước phát triển cũng như các nước khác trong khu vực. Nhưng tỷ lệ lớn, không đồng nghĩa với việc đảm bảo công bằng. Người dân ở đô thị đang tiếp cận nhiều hơn với hỗ trợ so với nhóm nông thôn. Người Kinh và người Hoa, đang nhận được hỗ trợ lớn hơn so với nhóm dân tộc thiểu số. Nhóm khá giả đang là nhóm hưởng lợi lớn nhất từ an sinh xã hội chứ không phải là nhóm có thu nhập thấp hơn. Chính sách, mục tiêu là hỗ trợ người nghèo nhưng khi thực thi đã biến dạng thành thiên vị người giàu. Khoảng cách bất bình đẳng không thu hẹp mà còn bị đào sâu.

 

Phát triển bao trùm bằng cách nào?

Sau hơn ba thập kỷ đổi mới, không thể phủ nhận, Việt Nam đã đạt được những thành công không nhỏ trong phát triển kinh tế. Nhưng miếng bánh tăng trưởng khó có thể nói đã được phân chia một cách công bằng và hợp lý. Đã đến lúc, phát triển bao trùm cần được chuyển hóa từ các tuyên bố và cam kết thành hành động – chính sách cần phải được tính toán và thiết kế lại để đảm bảo mục tiêu phát triển hài hòa, trong đó tăng trường kinh tế đi liền với công bằng xã hội. GDP tăng thôi chưa đủ – thành quả tăng trưởng phải được phân phối công bằng hơn cho mọi nhóm dân cư.

Ba thập kỷ đổi mới đã cho Việt Nam những tiền đề quan trọng để làm được điều đó. Khu vực tư nhân trong nước đã lớn mạnh và đủ sức đóng vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế. Những dự án thua lỗ ‘nghìn tỷ’ của doanh nghiệp nhà nước càng góp thêm bằng chứng thuyết phục rằng, đã đến lúc Nhà nước cần rút nhanh ra khỏi lĩnh vực kinh tế. Những khoản ngân sách ‘nghìn tỷ’ thay vì ném vào các Vinashin, Vinaline, PVC cần được chuyển sang đầu tư vào an sinh xã hội. Và quan trọng hơn, hệ thống an sinh xã hội được thiết kế lại để ‘thiên vị’ người nghèo chứ không phải tài trợ cho kẻ giàu.

Ba thập kỷ thay đổi cũng đã tạo ra môi trường cho xã hội dân sự phát triển. Nhu cầu và vă hóa làm tự thiện – một kênh tự nguyện để ‘phân phối lại’ của cải và thu nhập của người dân – đã định hình và đang lớn mạnh nhanh chóng. Quan niệm đúng đắn và lành mạnh về một xã hội dân sự, sẽ giải phóng nguồn lực khổng lồ này, – để góp thêm một cánh tay giúp nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội.

Đó chính là những tiền đề thiết yếu nhất cho ‘phát triển bao trùm’ – điều kiện để tạo ra phát triển bền vững và hài hòa xã hội: để những ngày tết không còn cảnh người nghèo chờ gạo cứu đói, để mọi trẻ em đều có áo mới đến trường; để mọi con người – đến lúc chết đi vẫn giữ được phẩm giá tối thiểu của con người.

Để không còn người nghèo bị bỏ lại đằng sau.

Chống tham nhũng – nếu quan chức được ‘soi’ như Hoa hậu?

Trong tràn ngập tin tức về Hoa hậu Việt Nam trên báo chí mấy hôm nay, tôi thực sự ấn tượng với hàng tít trên Tuổi trẻ ‘Hoa hậu Việt Nam và những điều tra viên mạng xã hội’. Bài báo tường thuật chuyện ‘tiểu sử’ của tân Hoa hậu đã được báo chí và mạng xã hội ‘đào xới’ đến chân tơ kẽ tóc như thế nào, chỉ vài giờ sau khi cô đăng quang.

Thật tình cờ, câu chuyện ‘điều tra viên mạng xã hội’ cũng gần như là thông điệp chính trong phần chia sẻ kinh nghiệm về chống tội phạm tham nhũng và rửa tiền giữa bà Alyson Kay Duncan, thẩm phán tòa phúc thẩm Liên Bang của Hoa Kỳ với Viện Nghiên cứu Lập pháp mà tôi có có cơ hội tham gia vào tuần trước ở Hà Nội.

Tòa phúc thẩm liên bang là cơ quan đầy quyền lực của ngành tư pháp Hoa Kỳ. Thẩm phán ở tòa này được bổ nhiệm trọn đời bởi bởi Tổng thống với sự chuẩn thuận của Thượng Viện. Bà Duncan, là người phụ nữ gốc Phi đầu tiên được bổ nhiệm giữ cương vị cầm cân nảy mực ở Tòa phúc Thẩm Bang khu vực IV, bởi Tổng thống G.W. Bush từ năm 2003 và sẽ tiếp tục giữ trọng trách đó đến trọn đời trừ khi bà tự chức hoặc bị luận tội – điều chưa từng xảy ra với thẩm phán nào trong suốt lịch sử nền tư pháp Mỹ.

Khi được đặt câu hỏi rằng, ở Việt Nam, trước mỗi kỳ bầu cử, các ứng cử viên thường gặp rất nhiều đơn thư tố cáo, không biết ở Hoa Kỳ có gặp tình trạng tương tự không? Câu trả lời của bà Duncan thực sự khiến nhiều cử tọa ngạc nhiên. Thông thường tại Mỹ, ngay khi tên ứng cử viên được công bố, báo chí đã công bố tường tận mọi chi tiết, mọi thông tin công chúng quan tâm về người đó, ‘từ khi chào đời đến ngày ngày tranh cử’. Chính trị gia ở cấp càng cao, công chúng càng quan tâm và đồng nghĩa càng bị giới truyền thông soi kỹ. Các ‘tỳ vết’ trong lý lịch ứng cử viên, bao gồm cả bê bối tài chính nếu có khó mà qua mặt được báo chí.

Trong trường hợp bản thân bà – khi được đề cử là ứng cử viên cho vị trí thẩm phán, hiệp hội luật sư Hoa Kỳ – một tổ chức xã hội dân sự- nơi tập hợp những người giỏi nhất về chuyên môn, cũng đóng vai trò ‘soi xét’ nghiêm ngặt mặt về chuyên môn nghề nghiệp của thẩm phán. Như thế, dù không được trực tiếp ‘bầu’ – nhưng ‘lá phiếu ảo’ của báo chí, của xã hội dân sự đóng một vai trò quyết định ‘thực’ không hề nhỏ đến cái ghế của một người giữ trọng trách tối cao.

Vai trò của báo chí và xã hội dân sự trong việc góp phần cùng với các cơ quan chính phủ nhằm chống tham nhũng được bà Duncan và các thành viên cùng đoàn nhắc đi nhắc nhiều lần trong suốt cuộc thảo luận. Bà nhấn mạnh, các cơ chế kiểm soát quyền lực nội bộ trong hệ thống nhà nước – tức chế ước và kiểm soát chéo giữa ba nhánh quyền lực Lập pháp – Hành pháp – và Tư pháp, là chưa đủ. Báo chí, với khả năng điều tra của mình, thực tế đã đóng vai trò không nhỏ trong việc phát hiện, thúc đẩy, giám sát việc xử lý nhiều vụ việc phạm tội, trong đó có tội phạm tham nhũng của giới chính trị gia. Bà thừa nhận, bản thân Hoa Kỳ cũng đang phải đối mặt với những thách thức trong vấn đề chống tham nhũng, từ việc điều tra đến bảo vệ nhân chứng và người tố cáo. Tuy nhiên, vai trò giám sát của báo chí và xã hội dân sự đã tạo ra được áp lực lớn để thúc đẩy việc minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của những người nắm quyền lực. Và đó chính là một thứ ‘vũ khí’ quan trọng giúp gia tăng tính minh bạch của giới chính trị gia cũng như bộ máy công quyền.

Lập luận của bà thẩm phán thuyết phục tôi thêm khi quan sát chuyện …Hoa hậu Việt Nam mấy ngày nay. Cách đây chưa lâu, sực soi xét và áp lực của mạng xã hội và báo chí, chưa bàn đến tính đúng/sai của vấn đề, đã khiến một Hoa hậu coi như mất ngôi vì chuyện hút thuốc lá nơi công cộng. Và một ngày sau khi nhận Vương miện, Hoa hậu mới bắt đầu đối mặt với sóng gió và sự soi mói của truyền thông và Facebook, thậm chí từ những chuyện …ngày xửa ngày xưa. Trên nhiều góc độ, cá nhân tôi nghĩ đó là điều tích cực. Bởi các nhan sắc từ nay, nếu muốn đội lên đầu vương miện người đẹp, ắt hẳn phải ý thức ‘giữ mình’ từ thủa tóc còn thắt bím.  Và bất kỳ ai đã dính tỳ vết, hẳn sẽ chùn chân khi quyết định dấn mình vào những cuộc tranh tài nhan sắc.

Xét trên góc độ tương tự, các chính trị gia, càng ở cấp càng cao – nếu bị soi như ‘hoa hậu’ – ắt hẳn cũng chịu áp lực để ‘giữ mình’ như Hoa hậu. Nhất là trong thời của mạng xã hội như bây giờ, quan chứng dính tỳ vết càng khó lọt khỏi hàng triệu cặp mắt, đôi tai của hàng triệu triệu ‘nhà báo công dân’.

Hệ thống luật pháp Mỹ hiện nay không có một đạo luật riêng để ‘phòng và chống tham nhũng’ – các tội phạm liên quan đến tham nhũng và rửa tiền được quy định trong nhiều đạo luật và án lệ khác nhau. Trong bảng xếp hạng chỉ số về Cảm nhận tham nhũng mới nhất, nước Mỹ đứng ở vị trí thứ 16, trong tổng số 167 nước được xếp hạng. Trong khi đó, thứ hạng của Việt Nam năm ngoái là 112. Luật Phòng chống tham nhũng của Việt Nam đã được ban hành từ năm 2005 và đang xem xét được sửa đổi tiếp. Nhiều lần trong cuộc trao đổi, trước các câu hỏi khó về ‘đặc thù rất Việt Nam’,  bà thẩm phán đầy uyên bác – trong sự nghiệp bà từng có thời gian là phó giáo sư giảng dạy các môn Luật tại đại học Bắc Carolina – thẳng thắn thừa nhận ‘tôi không giúp được các bạn trong vấn đề này’. Nhưng chắc hẳn, ‘bí quyết’ về chống tham nhũng theo cách thức của các nước phát triển thì bà đã chia sẻ hoàn toàn thành thực – chế ước và kiểm soát quyền lực trong nội bộ bộ máy nhà nước là điều kiện cần, và giám sát của báo chí và xã hội dân sự là điều kiện đủ.

Giữa tràn ngập hình ảnh và bình luận về cô hoa hậu Việt Nam trên báo chí và Facebook mấy ngày hôm nay, tôi chợt nghĩ nếu các vị trí cao cấp trong các cơ quan công quyền được lựa chọn khắt khe và đặt dưới sự giám sát chặt chẽ như …Hoa hậu, liệu Nhà nước có phải hao tâm tổn sức đến thế trong chuyện phòng chống tham nhũng bấy lâu nay.

*Một phần bài viết đã đăng trên Tuổi trẻ