2016, “thiên nga đen” và đổi mới chính sách

Trong nhiều năm trở lại đây, nếu phải chọn một năm với nhiều sự kiện “thiên nga đen” nhất chắc hẳn nhiều người sẽ chọn năm 2016.

“Thiên nga đen” (Black swan) là thuật ngữ do Nassim Taleb khởi xướng, được sử dụng rộng rãi trước nhất trong thị trường tài chính, hàm ý chỉ những sự kiện có tác động lớn nhưng lại xuất hiện một cách bất ngờ và gần như không dự báo được.

Thời điểm này một năm về trước, khi quả cầu đón năm mới trên quảng trường Thời đại rơi xuống, có lẽ số ít người Mỹ nghĩ rằng vị tổng thống được chọn ra trong năm 2016 lại là ông Donald Trump. Và bên kia bờ Đại Tây Dương, trong màn pháo hoa rực rỡ trên sông Thame, người Anh và châu Âu nói chung ít ai biết rằng, chỉ năm tháng nữa thôi, số đông cử tri Anh sẽ chọn lựa rời bỏ châu Âu.

Cũng thời điểm ấy, người Việt, bước vào năm 2016 trong dư âm hân hoan của việc Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vừa được ký kết, đang chờ đợi một kịch bản tươi sáng hơn cho nền kinh tế vốn ít nhiều kém khởi sắc trong suốt quãng thời gian dài vừa qua. Chắc chắn rằng, không nhiều người bi quan và sẵn sàng tâm thế cho một loạt những biến cố đang chờ đợi.

Tháng 4, sự cố môi trường biển do Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ra làm bốn tỉnh miền Trung điêu đứng. Những lo ngại về an toàn thực phẩm trong những tháng đầu năm 2016 lên đến đỉnh điểm. Thực phẩm bẩn, vốn đã ám ảnh bữa ăn người Việt suốt thời gian dài vừa qua, thực sự trở thành một cuộc khủng hoảng. Chưa hết, năm 2016 cũng là năm chứng kiến những đợt thiên tai khốc liệt nhất trong nhiều năm trở lại đây. Đầu năm, hạn mặn lên đến đỉnh điểm kéo dài ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Cuối năm, lũ lụt ở Nam Trung bộ gây thiệt hại lớn cả về sinh mạng con người lẫn vật chất.

Dù năm 2016 không phải là không có những điểm sáng, đơn cử là làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ trong giới trẻ, là quyết tâm hành động của Chính phủ mới nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, nhưng tổng thể, 2016 vẫn là một bức tranh với đa phần mảng màu kém tươi sáng và nổi bật trên đó là những “sự kiện thiên nga đen”.

Từ “thiên nga đen’ đến những “nan đề phức hợp” và đổi mới chính sách

Năm 2017, áp lực cải cách càng lớn hơn với Chính phủ sau những hệ quả của các “thiên nga đen” năm cũ. Kinh nghiệm, các bài học và mô hình cải cách từ bản thân Việt Nam lẫn các nước đi trước, rõ ràng là không thiếu, vấn đề còn lại vẫn là lựa chọn của chính chúng ta.

Không phải đến bây giờ, tính bất định mới được thừa nhận. Trong các khoa học tự nhiên, sự xác tín vào những hiểu biết mang tính chắc chắn, niềm tin vào tính xác định của thế giới vật chất, từ lâu đã nhường chỗ cho sự thừa nhận về tính bất định. Bất chấp sự tăng tiến chóng mặt của các khám phá công nghệ mới và khối lượng tri thức khổng lồ tích lũy được, nhiều hiện tượng là không thể dự báo. Điều đó rõ ràng cũng đúng trong đời sống xã hội. Các sự kiện “thiên nga đen” – những cuộc khủng hoảng lớn, luôn có chỗ đứng của nó, bất chấp các nỗ lực dự báo của giới chuyên môn.

Nhưng nói thế không phải là đầu hàng “thiên nga đen”. Dự báo “thiên nga đen” luôn là vấn đề tranh cãi. Nhưng nỗ lực tìm hiểu về nó cho phép đi đến một nhận thức được thống nhất cao, rằng đối với “thiên nga đen’’, trọng tâm không phải là sự kiện gì sẽ đến vào lúc nào. Quan trọng hơn là nhận diện sớm các rủi ro để có những chiến lược ứng phó và thích nghi hữu hiệu. Nói cách khác, dù thời điểm xảy ra sự kiện là không thể dự báo, nhưng mọi sự kiện đều cần đến những yếu tố tiền đề và môi trường cho nó xảy ra. Và đó là những yếu tố có thể xác định được. Xác định các yếu tố rủi ro, nghĩa là có thể có các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp.

Một thuật ngữ gần đây đang được sử dụng thường xuyên hơn để mô tả những loại vấn đề chính sách này, đó là “wicked problem” (tạm dịch “nan đề mang tính phức hợp”). Đặc điểm chính của các “nan đề” loại này là tính khó định dạng của vấn đề, mối quan hệ “nhân” – “quả” phức tạp liên quan đến nhiều nhóm đối tượng, liên tục tương tác và biến đổi. Các “nan đề” này gần như không giải quyết được hoàn toàn mà can thiệp chính sách chỉ có thể giảm tác động xấu của nó. Nghèo đói, bất bình đẳng thu nhập, quản lý tài nguyên chung… có thể xem là những “nan đề” tiêu biểu.

Trở lại với Việt Nam, những “sự kiện thiên nga đen” và “các nan đề phức hợp” thể hiện rất rõ. Đơn cử, sự cố Formosa, với một quy mô toàn khu vực như vậy, có thể là vượt ngưỡng dự báo. Nhưng những yếu tố rủi ro đã xuất hiện từ trước đó: từ quy hoạch môi trường, giám sát tuân thủ thực thi các tiêu chuẩn xả thải; năng lực ứng phó khi có thảm họa… Sự cố chỉ là “điểm bùng phát” của một loạt diễn tiến. Nhưng sự cộng hưởng của các rủi ro thành phần, rốt cuộc đẩy rủi ro hệ thống vượt mọi ngưỡng tiên liệu và vượt xa khả năng hiện có để ứng phó.

Những phân tích tương tự có thể thấy trong trường hợp hạn mặn ở ĐBSCL. Mức độ khốc liệt của El Nino đúng là cực đại trong hơn trăm năm qua. Nhưng những yếu tố rủi ro khác đã được nhận biết trước đó: các đập thủy điện dày đặc trên khắp lưu vực sông Mêkông làm sụt giảm lượng nước vốn đã ít ỏi; mạng lưới đê bao, cống ngăn mặn, thoát lũ vốn đã được quy hoạch không hợp lý; cách thức canh tác và tổ chức dân cư… Tất cả cộng hưởng và tương tác với El Nino để gây ra thiên tai nghiêm trọng vượt quá khả năng ứng phó của hệ thống hiện tại.

“Thiên nga đen”, và rộng hơn các “nan đề phức hợp”, như vụ ô nhiễm môi trường biển do Formosa Hà Tĩnh gây ra, như thực phẩm bẩn, khi sự kiện đi qua, nhìn lại có thể giải thích khá rõ ràng, kể cả chỉ ra các yếu tố rủi ro. Vì vậy điều quan trọng vẫn là nhận diện từng yếu tố rủi ro, và quản trị, xử lý từng yếu tố trong hệ thống, chứ không đợi đến khi các rủi ro tương tác và bùng phát.

Nhưng nói đi vẫn phải nói lại, lý thuyết là vậy, song thực tế là không đơn giản. Bởi lẽ, thứ nhất, nhận diện các yếu tố đang “ẩn”, tích tụ và diễn tiến là điều không dễ. Thứ hai, hệ thống nhà nước vốn thường được thiết kế để “giải quyết” khi vấn đề đã xảy ra chứ ít khi vì mục đích ngăn ngừa rủi ro có thể đến.

“Think- tank” trong đổi mới chính sách và giải quyết các “nan đề phức hợp” ở Việt Nam

Nghiên cứu lý thuyết lẫn kinh nghiệm thực tiễn các quốc gia khác đều khá thống nhất rằng “đổi mới chính sách” (policy innovation) được xem là cách thức tốt để các chính phủ ứng phó với các “nan đề phức hợp”.
Việc nhận diện các nan đề phức hợp cần có tri thức tổng hợp về nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, mô hình tổ chức các bộ ngành phân mảnh như hiện nay đã làm hạn chế đáng kể năng lực phân tích và nhận diện các vấn đề chính sách vốn liên ngành – đa lĩnh vực. Mỗi bộ, ngành, tuy có đầy đủ các viện nghiên cứu chiến lược phát triển ngành (thậm chí có những bộ có vài ba viện), nhưng năng lực phân tích và tư vấn chính sách của các viện này phần lớn là hạn chế. Quan trọng hơn, các viện bị “phân mảnh” nhiều, trong khi Chính phủ lại thiếu các nhóm chiến lược có khả năng tư duy vấn đề phức hợp và liên ngành.

Những giải pháp chính sách chắp vá và thiếu hiệu quả trên nhiều vấn đề lớn hiện nay thể hiện rõ thực trạng đó. Đơn cử, những vấn đề nóng về lương tối thiểu, về tuổi nghỉ hưu và hưởng bảo hiểm xã hội… đang bị tư duy phân mảnh trong lĩnh vực chức năng của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Trong khi đó, vấn đề phức tạp này khó có thể giải quyết nếu không tiếp cận tổng thể về hệ thống an sinh xã hội và tiếp cận dịch vụ công – một lĩnh vực liên quan đến hàng loạt các bộ, ngành khác trong Chính phủ và nhiều chủ thể khác ở khu vực tư. Hay vấn đề ứng phó với hạn mặn, biến đổi khí hậu ở ĐBSCL, nỗ lực riêng lẻ của từng tỉnh đang làm suy giảm hiệu quả khi thiếu tiếp cận tổng thể toàn vùng.

Trong ngắn hạn, một giải pháp có thể tham khảo từ các quốc gia khác, đó là tận dụng nguồn lực tư vấn chính sách từ các nhóm nghiên cứu và tư vấn chiến lược – tức các “think-tank” độc lập. Think-tank tự nó không phải là giải pháp, nhưng think-tank với khả năng ứng dụng tri thức từ nghiên cứu học thuật, với hiểu biết thực tiễn, cộng với nhạy cảm về chính trị và hiểu biết về thể chế hiện hành, có thể đóng góp hiệu quả vào việc đề xuất những giải pháp chính sách khả thi.

Thủ tướng Chính phủ, trong những ngày cuối năm, vừa có cuộc gặp tham vấn với các trí thức và chuyên gia trong mạng lưới phát triển toàn cầu ở Việt Nam. Động thái đó là tích cực, nhưng để không mang tính hình thức và có thể phát huy hiệu quả thực sự, cần những động thái xa hơn và căn bản hơn: lãnh đạo Chính phủ cần có những nhóm chuyên gia tư vấn trong những nhóm vấn đề cụ thể. Nhóm “task force” (tổ công tác) này sẽ sát cánh cùng Chính phủ để làm việc dài hơi với những chủ đề và nhiệm vụ lớn được giao phó. Các “task-force” về cải cách thiết chế thị trường; đất đai và các vấn đề sở hữu; cải cách hành chính và quản trị địa phương, hiện đại hóa hệ thống tư pháp… nếu được tổ chức hợp lý, có thể nhanh chóng giúp Chính phủ bù đắp những thiếu hụt về năng lực kỹ thuật làm nền tảng cho những đổi mới chính sách căn bản.

Advertisements

Chính phủ “kiến tạo phát triển’ và phép thử “Hoa Sen”

Chính phủ và những câu hỏi từ Hoa Sen

Vụ việc Tập đoàn Hoa sen đề xuất kế hoạch xây dựng tổ hợp sản xuất thép ở Cà Ná, Ninh Thuận – ngay giữa thời điểm mà thảm họa môi trường gây ra bởi Formosa vẫn còn chưa được giải quyết xong – đã trở thành tâm điểm của dư luận. Trong khi người dân và nhiều chuyên gia bày tỏ quan ngại về rủi ro môi trường, chính quyền Ninh Thuận lại thể hiện sự ủng hộ tuyệt đối dành cho Hoa Sen, thông qua việc đề xuất một loạt ưu đãi ‘khủng’ cho dự án này. “Bóng’ giờ đang nằm trong chân Chính phủ. Nhưng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng cho số phận dự án, một loạt vấn đề chính phủ cần cân nhắc.

Thứ nhất là hiệu quả kinh tế và khả năng tạo việc làm. Một tiêu chí đúng đắn mà chính phủ đưa ra cho việc đánh giá các dự án gần đây là số lượng việc làm mà dự án tạo ra. Với dự án này, Hoa Sen hứa hẹn rằng dự án hoàn thành sẽ tạo ra 45.000 lao động cho địa phương. Xét từ góc độ tỉnh Ninh Thuận, đó là một con số hấp dẫn. Nhưng chính phủ, với tư cách phục vụ lợi ích quốc gia, còn cần nhìn cả khả năng tạo việc làm của cả ngành và lan tỏa ra toàn nền kinh tế, chứ không phải là một dự án riêng biệt. Ở khía cạnh này, các nghiên cứu kinh tế đều cho thấy rằng, thép không phải là ngành tạo ra ảnh hưởng lan tỏa cao đến nền kinh tế và việc làm. Do vậy thay vì dùng ưu đãi từ nguồn lực công (cụ thể ở đây là ưu đãi thông qua đất đai, nước, điện được trợ giá) cho Hoa Sen nói riêng, và ngành thép nói chung, liệu có nên dùng ưu đãi cho các ngành sản xuất khác có thể tạo ra nhiều việc làm lớn là ngành thép?

Thứ hai là hai là những hứa hẹn về khoản thuế Hoa Sen có thể đóng góp cho ngân sách địa phương. Cần phải có những tính toán kỹ lưỡng hơn về lập luận này. Bởi ngay chính Hoa Sen tiết lộ, mục tiêu lâu dài của dự án là xuất khẩu thép chứ không chỉ là giới hạn trong thị trường trong nước. Vậy một loạt ưu đãi rất lớn từ phía Nhà nước – từ các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như trợ cấp năng lượng (điện) nước, vốn vay ưu đãi. Cần phải xem xét đến khả năng Hoa Sen có bị kiện bán chống phá giá khi xuất khẩu không. Sản phẩm thép trung quốc đang bị kiện chống bán phá giá ở nhiều nước. Nếu Hoa Sen rơi vào hoàn cảnh tương tự; khả năng lợi nhuận, cũng như rủi ro thua lỗ của Hoa Sen thế nào ? Bởi nếu không có lợi nhuận thì lấy đâu ra tiền để Hoa Sen đóng thuế thu nhập Doanh nghiệp. Vì thế, khả năng về lâu dài Hoa Sen có thể góp phần tăng nguồn thu từ thuế cho địa phương vẫn cần được tính toán kỹ lưỡng hơn.

Thứ ba, bài toán kinh tế của Hoa Sen cần đặt được trong bối cảnh phát triển chung của toàn vùng – đặc biệt là xét trên tương quan thế mạnh du lịch biển của vùng này. Chi phí và lợi ích giữa Thép và Du lịch cần được tính toán tổng thể, không chỉ riêng cho Ninh Thuận mà cần xem xét cả Khánh Hòa và Bình Thuận, Vũng Tàu.

Thứ 4 là yếu tố công khai mình bạch trong việc thu hút và ưu đãi đầu tư. Chính phủ mới đã tuyên bố rất rõ ràng và nhất quán về việc xây dựng môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch. Vì vậy, dù có chấp thuận hay không chấp thuận dự án của Hoa Sen, quá trình đánh giá và phê duyệt này cần được thông tin đầy đủ và minh bạch đến người dân và doanh nghiệp khác. Cần nêu rõ được vì lý do gì Hoa Sen được chọn? Có sự cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác không, hay Hoa Sen là nhà đầu tư duy nhất? Câu chuyện các doanh nghiệp lớn, bắt tay, thậm chí là ‘đi đêm’ với các cơ quan quyết định chính sách – hay ‘chủ nghĩa thân hữu’ như cách gọi của giới chuyên gia – vốn đã trở thành vấn nạn nhức nhối của 2 nhiệm kỳ chính phủ trước. Do đó, nếu không minh bạch trong câu chuyện Hoa Sen – niềm tin vào chính phủ mới có nguy cơ tiếp tục bị xói mòn.

Và cuối cùng, cũng là vấn đề quan trọng nhất: quan ngại về vấn đề môi trường,  không chỉ cho riêng Ninh Thuận mà là toàn bộ khu vực Nam Trung Bộ. Vấn đề này, có lẽ không cần phân tích thêm, bởi bài học từ Formosa với toàn bộ khu vực Bắc Miền Trung đã là quá rõ ràng. Xét về cơ sở khoa học, chuyên gia Vũ Quang Việt đưa ra một phân tích đáng chú ý: nếu đưa chi phí về môi trường vào dự án thì hầu các doanh nghiệp thép khó có lãi. Còn nếu doanh nghiệp thép có lãi chắc chắn môi trường bị hủy hoại[1]. Nếu chọn Thép, chỉ Hoa Sen có lãi, và tỉnh Ninh Thuận có ‘thành tích’ – còn chi phí cao hơn nhiều, sẽ chia đều và đổ lên đầu toàn bộ người dân.

 

Hoa Sen và mục tiêu phát triển bền vững của Chính phủ

Vượt ra ngoài những vấn đề kỹ thuật nêu trên, Hoa Sen thực sự là một phép thử với chính phủ mới. Bởi qua cách Chính phủ xử lý bài toán Hoa Sen, người dân và doanh nghiệp sẽ có cơ hội kiểm chứng trên thực tế việc thực thi các tuyên bố và cam kết cải cách mà chính phủ đã nhiều lần đưa ra.

Xét từ góc độ chính quyền địa phương, việc Ninh Thuận đề xuất những ưu đãi khủng dành cho Hoa Sen là có thể hiểu được. Sức ‘cám dỗ’ của lời hứa hẹn về hàng chục nghìn việc làm; hàng chục nghìn tỷ thu ngân sách, con số tăng trưởng GDP vùng cao hơn hàng chục ‘tỉnh bạn’ thì thật khó mà cưỡng lại được với một tỉnh nghèo như Ninh Thuận – điều cũng từng xảy ra với Hà Tĩnh trong câu chuyện Formosa. Nhưng đứng ở góc độ Quốc gia, Chính phủ cần dũng cảm nói không với GDP ‘bẩn’ – đúng như cam kết ‘không đánh đổi tăng trưởng lấy môi trường’ của cá nhân Thủ tướng.

Cá nhân tôi cho rằng, Chính phủ, ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ đã lựa chọn đúng đắn – cải cách môi trường kinh doanh và phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước. Môi trường kinh doanh thông thoáng và minh bạch là yếu tố quan trọng hàng đầu để phát triển doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế,  chứ không phải là những ưu đãi về đất đai, vốn, hay tài nguyên. Nói không với những ‘dự án tỷ đô’ đầy cám dỗ và cũng đầy rủi ro ô nhiễm đồng nghĩa với việc chấp nhận GDP sẽ tụt giảm trong ngắn hạn. Nhưng lợi ích mang lại bởi sự lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp, bởi phát triển bền vững sẽ lớn lao hơn nhiều trong dài hạn.

Tôi tin rằng, người dân và doanh nghiệp chắc chắn đủ sáng suốt để ủng hộ chỉnh phủ lùi một bước trong cái gọi là ‘thành tích tăng trưởng’ để tiến những bước dài hơn trên con đường phát triển về sau.

[1] http://www.thesaigontimes.vn/149047/Thi-truong-thep-va-Formosa.html

 

Chính sách và bằng chứng

Những ngày đầu năm, trong lúc tranh luận xung quanh thông tin sắp tới xe máy khi lưu thông phải bật đèn định vị vào ban ngày chưa lắng xuống, thì một quy định khác, cũng liên quan đến an toàn giao thông, là bắt buộc trong ô tô phải có bình cứu hỏa, lại khiến người dân lao xao.

Chưa nói đến công tác truyền thông về chính sách mới quá kém, khiến người dân phải nháo nhào đi mua bình cứu hỏa vào giờ chót, bản thân tính hiệu quả của chính sách này trong việc giảm thiệt hại cháy nổ cũng không thuyết phục được công luận.

Những chính sách kiểu này mới chỉ là phần nổi của “tảng băng chìm” đáng báo động về công tác xây dựng chính sách của các cơ quan nhà nước hiện nay.

Xây dựng chính sách – bằng chứng hay cảm tính?

Có quá nhiều quy định chính sách mà khi được công bố, đến người dân bình thường nhất cũng “không thể hiểu nổi” chúng được ban hành dựa trên căn cứ nào. Ví dụ, ngành giao thông vận tải có “tiền sử” khiến dư luận sửng sốt với những đề xuất như ngực lép thì không được lái xe; phạt người lái xe đội mũ bảo hiểm kém chất lượng. Ngành y tế một dạo định phạt người nào ăn bẩn nhân danh đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đó mới chỉ là những đề xuất, khi được thông tin trên phương tiện truyền thông đã bị công luận chỉ trích, phải dừng việc triển khai. Còn quá nhiều quy định khác vừa ban hành ra đã phải thu hồi, ban hành nhưng không thực hiện được, thực hiện nhưng không mang lại hiệu quả mà chỉ những người trong cuộc, trong lĩnh vực hiểu hết.

Một hệ quả lớn của việc ban hành ra các “chính sách tào lao” mà dường như các cơ quan nhà nước đang cố tình coi nhẹ – đó là sự xói mòn niềm tin của người dân vào chính sách và cơ quan công quyền.

Trong rất nhiều trường hợp, đơn cử như hai quy định và ý định mang tính thời sự dẫn ở phía trên, hai “căn cứ” thường được viện dẫn. Một là kinh nghiệm nước ngoài – các nước tiên tiến người ta làm rồi, mình cần phải “học hỏi”. Và hai là từ “tổng kết kinh nghiệm” trong nước, từ những thống kê không mấy tin cậy, những lập luận thiếu thuyết phục từ các vụ việc đơn lẻ trong nước. Hiếm có trường hợp nào chính sách được đưa ra dựa trên các nghiên cứu và bằng chứng khoa học; có các đánh giá đầy đủ về tác động chính sách đến các nhóm đối tượng, thực hiện nghiêm túc các phân tích chi phí/lợi ích của các lựa chọn chính sách; và cân nhắc kỹ càng tính khả thi trên thực tiễn. Có thể nói, trong công tác xây dựng chính sách hiện nay, không chỉ quy trình ban hành có vấn đề, năng lực kỹ thuật về nghiên cứu, phân tích và phát triển chính sách của các cơ quan có thẩm quyền cũng là điều rất đáng lo ngại.

Động cơ ban hành chính sách – vì lợi ích công hay phục vụ nhóm trục lợi?

Không hiếm chính sách được ban hành ra, người ta thấy đằng sau có bóng dáng của việc “cài cắm” những quy định mang lại lợi ích trực tiếp cho một nhóm đối tượng nào đó, trong khi chi phí chính sách chia đều cho toàn xã hội. Trường hợp các bộ, ngành “giành” nhau quyền “quản lý nhà nước”, quyền được ra quy định cho thấy động cơ trục lợi chính sách.

Cũng do mục đích chính sách không phải vì lợi ích của số đông người dân, các công cụ chính sách được lựa chọn có chủ ý, nghiêng nặng về các biện pháp mang tính trợ cấp, hỗ trợ trực tiếp bằng ngân sách; hoặc điều chỉnh bằng quy định mang tính cưỡng chế hành chính. Trong khi đó, các công cụ thị trường, hoặc các chương trình thuyết phục, truyền thông, vận động hiếm khi được ưu tiên. Không nói đâu xa, vẫn tiếp tục trường hợp buộc phải có bình cứu hỏa trong ô ô ở trên, ngay khi quy định được ban hành, đại diện cơ quan đề xuất chính sách đã phải giải thích với báo chí việc có hay không chuyện bắt tay giữa cơ quan với doanh nghiệp. Nhưng lời giải thích này khó mà thuyết phục được được số đông người dân.

Chính sách dựa vào bằng chứng – một giải pháp về kỹ thuật

Phương pháp tiếp cận chính sách dựa vào bằng chứng (evidence-based policy) là một giải pháp mang tính kỹ thuật nếu được áp dụng có thể góp phần hạn chế những yếu kém của những chính sách loại này. Theo đó, ban hành chính sách phải dựa trên việc sử dụng các bằng chứng khoa học, có thể tính toán, phân tích, chứng minh được một cách thuyết phục tính hiệu quả và tính khả thi trên thực tế. Nói một cách đơn giản, trong quá trình làm chính sách, bằng chứng từ nghiên cứu được đặt lên hàng đầu, chứ không phải là những lập luận mơ hồ và cảm tính.

Ví dụ phổ biến cho hướng tiếp cận này là kỹ thuật xây dựng các can thiệp chính sách; các chương trình dựa vào hiệu quả thực tế của các can thiệp chính sách đã được kiểm chứng.

Kỹ thuật mới này, vốn bắt nguồn từ phương pháp nghiên cứu y học – “Thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát” (Randomised control trial – RTC) được phát triển và từng bước được áp dụng rộng rãi vào lĩnh vực chính sách công. Trong ngành y, các phương pháp điều trị hay một loại dược phẩm mới trước khi áp dụng trên diện rộng, đều cần đi qua một quy trình chặt chẽ, trong đó có việc thử nghiệm trên một nhóm đối tượng đồng thời so sánh với một nhóm khác không được thử nghiệm có cùng đặc điểm. Sau một chu kỳ can thiệp, việc đánh giá sẽ cho phép nhận biết hiệu quả của phương pháp điều trị mới.

Theo cơ chế tương tự, chính sách, trên nhiều phương diện, là những “toa thuốc” – “phác đồ điều trị” từ phía “bác sỹ” nhà nước để giải quyết các vấn đề – các “căn bệnh” của xã hội. Các can thiệp chính sách – để biết có tác dụng “chữa bệnh” hay không, cần được thử nghiệm trên một “nhóm đối tượng mẫu” đồng thời so sánh với một nhóm khác mà không chịu sự điều chỉnh/can thiệp của chính sách đó. Chỉ đến khi đảm bảo các can thiệp đó hiệu quả, khi đó mới đưa được đưa vào quy trình xem xét để áp dụng trên quy mô toàn xã hội.

Tiếp cận chính sách dựa vào bằng chứng, ví dụ như RTC, đang dần trở thành một xu hướng, một giải pháp kỹ thuật, một mặt giúp giảm bớt các “tác động chính trị” hoặc “động cơ trục lợi” lên chính sách, mặt khác, đảm bảo chất lượng chính sách được nâng cao hơn.

Chất lượng chính sách, chi phí thực thi và “tính chính đáng” của Nhà nước

Một hệ quả lớn của việc ban hành ra các “chính sách tào lao” mà dường như các cơ quan nhà nước đang cố tình coi nhẹ – đó là sự xói mòn niềm tin của người dân vào chính sách và cơ quan công quyền. Một khi người dân có niềm tin, việc thực thi chính sách trên thực tế sẽ dễ dàng và tốn kém ít chi phí để thực hiện. Ngược lại, quá nhiều chính sách “trời ơi đất hỡi”, chính sách “trục lợi” được làm ra, niềm tin của người dân sẽ dần bị xói mòn. Đến lúc đó, Nhà nước bị đẩy vào thế bắt buộc phải sử dụng nhiều hơn bộ máy, chi phí ngân sách, và cả gia tăng sử dụng các công cụ mang tính cưỡng chế để đảm bảo chính sách được thực thi. Đó là vòng xoáy nguy hiểm: chính sách dở – mất niềm tin – lạm dụng các công cụ mang tính cưỡng chế – mất niềm tin nhiều hơn, mà chúng ta đang chứng kiến hiện nay

  • Bài đã đăng Thời báo KTSG http://www.thesaigontimes.vn/141058/Chinh-sach-va-bang-chung.html