“Chính sách trên trời, cuộc đời dưới đất”

Một lần đứng chờ xe buýt, tôi tranh thủ bắt chuyện với một anh xe chạy ôm đang chờ khách. Anh cũng chỉ mới chạy xe được bốn tháng, còn trước đó anh vốn là công nhân cho một công ty sản xuất thiết bị vệ sinh. Công ty phá sản, mười hai công nhân như anh mất việc, bốn tháng lương còn bị nợ không có cách nào đòi được. Sau mấy tháng tìm không ra việc trong các nhà máy, anh đành quay sang chạy xe. Đang quan tâm đến chuyện bảo hiểm cho người lao động sau những tranh cãi xoay quanh điều 60, luật Bảo hiểm xã hội mới cách nay mấy tháng, tôi tranh thủ hỏi xem chuyện bảo hiểm của anh thế nào. Anh bảo mình còn …may mắn hơn số đông các anh em khác, vì rút được bảo hiểm xã hội 1 lần. 2 năm đóng bảo hiểm xã hội, mỗi năm được nửa tháng lương, tổng cộng được 6 triệu đồng. Còn bảo hiểm thất nghiệp thì chịu, vì công ty phá sản, không ai xác thực thủ tục giấy tờ để làm được bảo hiểm thất nghiệp. Và quả thực anh cũng… may mắn thật, vì nếu Quốc hội không dừng thực hiện điều 60 của Luật bảo hiểm 2014, những người như anh sẽ không đủ điều kiện để rút một lần 6 triệu đồng. Số tiền tuy nhỏ, biết rút ra thiệt nhiều hơn lợi nhưng vẫn phải rút, vì cấp bách quá không biết xoay ở đâu. Tôi hỏi anh biết chuyện đó không, anh lắc đầu, “chính sách là chuyện mấy ông ở trên, đâu tới được những người như bọn anh”.

Tôi lại nhớ một nghiên cứu gần đây của Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam- VCCI, nói rằng gần 80% doanh nghiệp chưa từng được hỏi ý kiến về các dự thảo pháp luật. Nhưng bạn đừng ngạc nhiên, rằng anh xe ôm vốn là công nhân thất nghiệp và doanh nhân, với nguồn lực hơn hẳn, lại chẳng khác gì nhau trong cậu chuyện tham gia vào những chính sách ảnh hưởng đến ‘cơm áo gạo tiền’ của chính mình. Bởi lẽ đơn giản là về mặt kỹ thuật, những người làm chính sách không thể với tới được ý kiến riêng lẻ của cả hàng triệu người, hàng tram nghìn doanh nghiệp khác nhau. Mặt khác, về phía người dân và doanh nghiệp, một năm riêng các bộ ban ngành trung ương ban hành đến hơn 1000 văn bản, thời gian đâu, nguồn lực đâu để theo dõi, để biết và góp ý.

Vì thế, các hội đoàn được sinh ra để làm việc đó. Với doanh nghiệp, họ bỏ ra vài triệu một năm để đóng phí hội viên, ‘góp gạo’ để nuôi những hội, hiệp hội ngành nghề. Hội đó là tổ chức hoạt động chuyên nghiệp, đóng vai trò là kênh giao tiếp giữa các thành viên với nhà nước và bảo vệ lợi ích cho những hội viên đóng tiền nuôi mình. Nhà nước dự kiến ra một chính sách đụng chạm đến ‘nhà’ mình, họ là người đầu tiên phải ‘báo’ cho ‘người nhà’, lấy ý các thành viên, tổng hợp quan điểm, rồi kiến nghị lên cơ quan ban hành chính sách. Rồi khi một chính sách mới ban hành, điều chỉnh thế nào đến quyền và nghĩa vụ của hội viên ‘nhà mình’, hội cũng là nơi thông báo lại cho các thành viên được biết. Vai trò của hội đoàn trong tham gia chính sách là thế, là người ‘gác cổng’, chủ động bảo vệ quyền lợi của ‘nhà mình’ trước nhất, chứ không phải là ngồi nhìn và ngồi chờ nhà nước đi hỏi ý kiến từng doanh nghiệp riêng lẻ. Còn ngược lại, với nhà nước, nếu thật sự muốn nghe góp ý chính sách, cách hiệu quả nhất là hãy tìm đến những hiệp hội này để lấy thông tin, đối thoại và tham vấn những tổ chức đại diện này.

Doanh nghiệp là vậy, nhưng anh xe ôm tôi vừa nói chuyện, chị bán trà đá vỉa hè tôi hay lê la, và cô “ô sin” tôi vẫn chạm mặt hàng ngày trong thang máy chung cư thì sao? Kể cả họ chưa hay không tham gia là thành viên hội đoàn chính thức nào đó, sẽ có những tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đứng ra bảo vệ quyền lợi của họ, nói thay tiếng nói của họ. Chẳng hạn, Light một tổ chức phi chính phủ Việt Nam vẫn thường lên tiếng vì những phụ nữ giúp việc gia đình, hay Rồng Xanh, một tổ chức khác vẫn miệt mài vận động cho quyền lợi của những em bé đánh giày, bán hàng rong nơi các thành phố.

Trừ phi những cá nhân là chuyên gia, là những người có quyền lực hoặc ảnh hưởng, may ra tiếng nói của cá nhân họ sẽ có cơ hội được lắng nghe. Còn vô vàn những cá nhân riêng lẻ khác, nếu lên tiếng một mình, tiếng nói đó tuyệt đại đa số sẽ rơi vào thinh không không còn tăm tích. Vì vậy, cách tham gia hiệu quả và thực chất nhất là lên tiếng thông qua những hội đoàn, tổ chức mà họ tham gia hoặc tự nguyện hoạt động vì lợi ích của họ. Với doanh nghiệp, đó là các hiệp hội ngành nghề, các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực họ kinh doanh. Với các nhân là các hội, nhóm mà họ có thể làm thành viên hoặc các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận hoạt động vì lợi ích của nhóm, cộng đồng đặc thù nào đó.

Có một câu nói của một đại biểu Quốc hội vẫn được truyền khẩu rộng rãi “Chính sách trên trời, cuộc đời dưới đất”.  Điều đó là đúng, nhưng tôi không tin căn nguyên thực sự của nhiều chính sách ‘trên trời’ chỉ đơn giản là vì chúng được vẽ vời trong “phòng máy lạnh”. Hãy nhớ, nguồn lực của mọi nhà nước là hữu hạn. Và chính sách là tấm chăn hẹp, kéo chỗ này sẽ hụt chỗ kia. Đừng để đến lúc thấy mình không còn mảnh chăn nào và bị phơi ra giữa gió lạnh mới kêu gào, lúc đó đã là quá muộn. Và bài ca‘nói mãi người ta có nghe đâu’ cũng chẳng làm vấn đề tốt lên. Quan trọng hơn, các cá nhân có lợi ích tương đồng, các cộng đồng, các nhóm liên quan với nhau, đã thực sự tập hợp lại, đã nói đúng kiểu và dùng đúng cách để ‘người ta’ nghe hay chưa. Vậy thì Luật về Hội, trải qua hơn 20 năm thai nghén (từ 1993), đang được dự thảo đến lần thứ 16, và chắc chắn sẽ phải ra đời trước khi đàm phán TPP hoàn thành, nên chăng là điểm khởi đầu

Advertisements

Hội đoàn phản biện chính sách- đừng để chuyện đã rồi

Tranh luận xung quanh chuyện hình sự hóa các hoạt động kinh doanh liên quan luật Hình sự 2015 tiếp tục nóng lên. Lần này là quan ngại của giới xuất bản liên quan đến điều 344 về các hành vi trong hoạt động xuất bản được quy định là tội danh hình sự.

Tôi không đi sâu vào khía cạnh pháp lý, nhưng một điểm trong phát biểu của ông Lê Hoàng, Phó chủ tịch hội xuất bản Việt Nam, lại cho thấy rất nhiều vấn đề về chuyện tham vấn, góp ý trong quá trình làm luật hiện này.

Ông Hoàng nói rằng ông đã ở hội Xuất bản được hai năm, cũng là khoảng thời gian luật được soạn thảo. Nhưng trong khoảng thời gian đó, Hội của ông và những người làm nghề xuất bản không ai được hỏi ý kiến về các quy định này. Chỉ đến khi luật ra rồi, tất cả mới hốt hoảng khi thấy quyền và lợi ích trực tiếp của mình bị đụng chạm.

Nhiều năm theo dõi chuyện làm luật của Quốc hội, tôi hoàn toàn chia sẻ với câu chuyện của ông Hoàng. Bởi giai đoạn lấy ý kiến các bên bị tác động bởi luật – một giai đoạn cực kỳ quan trọng trong quy trình xây dựng luật, trước nay vẫn được thực hiện rất kém. Có cả những nguyên nhân do quy trình kỹ thuật, và có cả những nguyên nhân do tính thiếu trách nhiệm của bên soạn thảo; lẫn có trách nhiệm đến từ tính thụ động của chính các nhóm tổ chức xã hội, hội đoàn.

Thứ nhất, xưa nay các bộ ngành soạn thảo thường đưa văn bản dự thảo để góp ý khi nội dung chính sách đã được viết thành quy phạm luật, dưới ngôn ngữ của các điều luật. Phải nói thật, để góp ý được cho văn bản hàng trăm trang, ngôn ngữ thuần túy là chuyên môn pháp lý, các luật sư, các chuyên gia cũng còn toát mồ hôi, nói gì đến người dân bình thường.

Thứ hai, ngay cả đối với các chuyên gia, việc theo dõi góp ý cũng không hề dễ dàng, do ban soạn thảo, trong quá trình làm việc phải thường xuyên cập nhật các bản dự thảo, nhưng họ lại hiếm khi không thông tin rộng rãi những thay đổi này. Trang dự thảo online của quốc hội; và website của bộ ngành, nơi được yêu cầu đăng tải dự thảo luật, thường chỉ đưa lên một, hai bản dự thảo đầu tiên. Còn các dự thảo đã được cập nhật, sửa đổi tiếp theo thì hầu như không được đưa lên web. Thế nên, chuyện chuyên gia, luật sự bị việt vị, vì góp ý trên bản cũ, rồi bị ban soạn thảo ‘giễu’ là chuyện thường.

Thứ 3, các hội đoàn (như Hội xuất bản chẳng hạn), các tổ chức xã hội dân sự đáng lẽ ra là các tổ chức đóng vai trò đại diện cho quyền lợi các nhóm người dân. Họ hiểu rõ quyền và lợi ích, tình hình thực tế và các vấn đề của hội viên. Họ có nguồn lực kỹ thuật, am hiểu chuyên môn để có thể góp ý trong quá trình làm luật. Lý thuyết là thế, nhưng trên thực tế, vai trò các hội đoàn vẫn bị xem nhẹ, ít khi được các cơ quan soạn thảo cung cấp thông tin, hoặc được mời tham gia vào các cuộc họp lấy kiến.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, chính ngay bản thân các hội đoàn, các tổ chức cũng không vô can trong chuyện này. Bởi họ nhiều lúc cũng rất bị động trong câu chuyện tham gia góp ý. Nếu cánh cửa bên phía nhà nước có đóng, đáng ra, họ cần phải chủ động đến gõ cửa và đòi vào, vì quyền được vào là quyền lợi đã ghi vào luật. Đằng này nhiều tổ chức, thấy bên phía Nhà nước khép cửa, họ cũng lẳng lặng lờ đi trách nhiệm đại diện của mình. Sự thụ động đó cho thấy nhiều hội đoàn, hiệp hội hoạt động vẫn còn dáng dấp của một cơ quan hành chính nhà nước chứ chưa phải là một tổ chức thực sự bắt rễ từ nhu cầu của các nhóm người dân.

Tuy nhiên, điều lạc quan là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 đã mở ra một cánh cửa quan trọng để các bên tham gia dễ dàng hơn vào quá trình làm luật. Luật mới phân tách giai đoạn xây dựng chính sách thành giai đoạn riêng – tách khỏi giai đoạn làm quy phạm (viết các điều luật dưới ngôn ngữ pháp lý). Nghĩa là các cơ quan soạn thảo phải đưa ra vấn đề chính sách và giải pháp chính sách trước, tham vấn và giải quyết xong việc soạn chính sách, lúc đó mới chuyển sang giai đoạn quy phạm hóa. Về mặt kỹ thuật, đọc, hiểu và góp ý các nội dung chính sách sẽ thuận lợi hơn rất so với góp ý khi chính sách đã được viết dưới ngôn ngữ quy phạm.

Một cánh cửa nữa, rất cần phải được mở tiếp, đó là Luật về hội – món nợ nhiều năm mà Quốc hội vẫn chưa trả được cho người dân. Một đạo luật thông thoáng và cởi mở về hội cần gấp rút ban hành để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của các tổ chức xã hội dân sự.  Tuy nhiên cũng không thể chờ cửa mở hết,  các hiệp hội, các tổ chức – những người đại diện cho quyền và lợi ích của các nhóm người dân đừng nên ngồi chờ phía Nhà nước mời mới đến. Chính bản thân họ phải chủ động tìm đến, gõ cửa và đòi vào. Nếu không, cảnh luật ra rồi mới bổ ngửa la làng vẫn sẽ tiếp tục diễn ra.

*Bài đã đăng Một thế giới