Những khoảng cách thu nhập

Mức độ bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm người dân đang gia tăng đến mức đáng lo ngại.

Hơn tháng một lần, tôi thường ghé tiệm cắt tóc quen gần nhà. Gọi là tiệm, nhưng thực ra chỉ có một cái ghế gỗ cho khách ngồi và một tấm ván bắt vào tường, nằm nhờ ngay mái hiên “lấn” ra phía cuối con ngõ. Anh thợ cạo quê ở Nam Định, lên Hà Nội mở tiệm cắt tóc đã vài năm nay. Vợ anh mở hàng nước chè ngay bên cạnh. Hai đứa con anh để lại quê với ông bà nội, đứa lớn học cấp hai, đứa bé còn tiểu học. Vợ chồng anh rất muốn, nhưng không thể đưa con lên Hà Nội, bởi đơn giản, với thu nhập chỉ khoảng 6-8 triệu đồng/tháng của cả hai vợ chồng, việc nuôi nấng, rồi cho hai con học trường tư ở đây là điều không thể. Còn trường công thì đương nhiên là không được, vì anh không có hộ khẩu cũng không có thường trú dài hạn tại đây.

Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội đầu tháng này công bố thu nhập bình quân đầu người của người dân Thủ đô là 70 triệu đồng/năm, tăng 1,8 lần, tức gần gấp đôi so với cách đây năm năm. Thật khó biết, phần đóng góp của anh thợ cắt tóc ấy và vợ anh được “tính” cho GRDP của tỉnh nào. Hà Nội, nơi anh sống và làm việc gần năm năm nay, hay Nam Định, nơi anh chỉ còn cái “hộ khẩu”?

Thực ra điều đó cũng không hẳn quan trọng. Tuy không biết anh “được chia” bởi địa phương nào thì anh vẫn là người Việt Nam. Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội mới đây cho biết, thu nhập bình quân đầu người của người dân Việt Nam vẫn tăng mạnh trong năm năm qua, ở mức khoảng 49,4 triệu đồng/năm, gấp đôi so với năm 2010. Dù là so sánh với người dân Thủ đô, hay người dân cả nước, nhìn vào “cơ ngơi” không hề thay đổi suốt cả năm năm qua của vợ chồng anh, không khó để nhận ra, những người như anh đang dần bị bỏ lại đằng sau so với đà tiến chung của xã hội.

Con số tăng gấp đôi GDP bình quân đầu người theo báo cáo chưa hẳn là “điểm sáng”, nếu nhìn sâu vào đằng sau nó.

Thống kê từ nguồn điều tra lao động của Ngân hàng Thế giới cho biết năm 2014, trong toàn bộ lực lượng 52,6 triệu lao động của Việt Nam, có 22,5 triệu (chiếm 43%) lao động nông nghiệp, 18,7 triệu (chiếm 36%) lao động làm công ăn lương và 11 triệu (chiếm 21%) tự doanh trong khu vực phi nông nghiệp. Về lý thuyết, hai vợ chồng anh thợ cắt tóc sẽ nằm trong con số 11 triệu người kia. Và chắc chắn, hai vợ chồng anh không quay về làm nông là lựa chọn hợp lý. Bởi trong suốt ba mươi năm từ ngày đổi mới, nông nghiệp, dù được “phong” là bệ đỡ, là tấm đệm của mọi khủng hoảng và suy giảm kinh tế, vẫn là khu vực tăng trưởng chậm nhất. Tệ hơn nữa, trong năm năm qua, tốc độ tăng trưởng của khu vực này còn tiếp tục “giảm dần đều” khi trung bình giai đoạn 2011-2014, tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng 3,3 % và chín tháng đầu năm 2015 còn 2,08%(1). Chiếm gần phân nửa lực lượng lao động, trong khi tốc độ tăng trưởng ngày càng giảm sút, không khó để nhận ra, thu nhập, và theo đó là mức sống của khu vực nông thôn đã tụt lại như thế nào so với đà tăng chung của cả nước.

Vì thế, con số tăng gấp đôi GDP bình quân đầu người theo báo cáo, chưa hẳn là “điểm sáng” nếu nhìn sâu vào đằng sau con số đó. Một mặt, từ năm năm trở lại đây, GDP (tổng sản phẩm quốc nội) đã không còn phản ánh chính xác “miếng bánh” người Việt Nam làm ra. Chi trả sở hữu (tức phần GDP của người nước ngoài) và chi trả nợ nước ngoài đang tăng chóng mặt theo từng năm, làm cho GNI (tổng thu nhập quốc dân), tức là “tiền tươi thóc thật” chúng ta kiếm được, teo tóp đi tương ứng. Một mặt khác, trong miếng bánh đang teo tóp đó, phần phân chia cho các nhóm dân cư khác nhau chắc chắn không thể đồng đều như nhau.

Phần chuyên đề về “Bất bình đẳng” trong Báo cáo cập nhật về phát triển kinh tế Việt Nam 2014 của Ngân hàng Thế giới chỉ rõ mức độ bất bình đẳng đang gia tăng đến mức đáng lo ngại trong thu nhập của các nhóm người dân.

Nhìn vào đồ thị so sánh mức tăng thu nhập giữa 40% dân số nhóm dưới, và 60% dân số thuộc nhóm trên, có thể nhận thấy khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm đang giãn rộng ra đến thế nào.
Điều này càng được khẳng định bằng số xe siêu sang, xe sang nhập về Việt Nam đã không ngừng tăng thêm, kể cả trong những thời điểm nền kinh tế được xem là khó khăn nhất.

Trong khi đó, thu nhập của nhóm nghèo hơn không chỉ tăng chậm hơn, mức sống của họ tiếp tục bị bào mòn bởi tốc độ tăng giá của hàng hóa chi tiêu căn bản. Thực phẩm, năng lượng, chi phí cho nhà ở, cho giáo dục và y tế là những khoản chi tiêu lớn chiếm gần như toàn bộ chi phí cuộc sống của một gia đình trong nhóm dưới. Tuy nhiên, nhìn vào rổ giá cả, chúng ta đang thấy gì? Giá dầu thế giới lao dốc trong suốt hơn một năm qua, nhưng giá xăng trong nước giảm không tương xứng. Giá điện năm 2015 bình quân đã tăng 7,5%. Học phí bậc đại học đã tăng, kế đến học phí bậc phổ thông cũng sẽ tăng từ đầu năm 2016. Phí bảo hiểm y tế cho học sinh phổ thông đã tăng, còn viện phí, với 1.800 loại dịch vụ y tế, chuẩn bị tăng ngay trong năm 2015 này.

Cuộc tranh cãi giằng co về lương tối thiểu đã kéo mức lương tối thiểu vùng tăng bình quân thêm 12,4%. Tuy nhiên, đừng quên rằng, thực sự chỉ có 5,9 triệu lao động ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước, trong tổng số 11,3 triệu lao động làm công ăn lương có hợp đồng lao động chính thức, là có tiềm năng được tăng lương “trên lý thuyết”. Nói là lý thuyết, bởi trên thực tế, có không ít bằng chứng chỉ ra rằng tăng lương tối thiểu không làm tăng thu nhập thực tế của công nhân nhưng lại làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp, thực ra chỉ có quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ công đoàn là được lợi. Trong khi đó, nhìn rộng ra cả nền kinh tế, theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, có đến 78% số lao động đang không tham gia vào bất kỳ hình thức bảo hiểm xã hội nào. Điều đó có nghĩa là họ luôn đứng trước rủi ro kép, trước mắt là những cú sốc tăng giá từ các chi phí cuộc sống cơ bản và dài hạn là rủi ro không có bệ đỡ từ mạng lưới an sinh xã hội chính thức nào.

Vài lần tôi hỏi vợ chồng anh thợ cắt tóc, anh sẽ đưa hai đứa con lên thành phố hay sẽ trở về với đồng chiêm Nam Định. Lần gần nhất, anh nói có thể anh sẽ vào miền Nam, hoặc ra ngoại thành để vào làm công nhân trong một nhà máy nào đó. Nhưng lựa chọn nào cũng sẽ chẳng dễ dàng với anh. Tôi không biết Nam Định đã đặt mục tiêu GRDP bình quân đầu người là bao nhiêu cho năm 2020, nhưng với Thủ đô, vào năm mà đất nước cơ bản sẽ trở thành nước công nghiệp, thu nhập bình quân người Hà Nội sẽ gấp đôi hiện nay, ở mức 140-145 triệu đồng/năm. Đến lúc đó, hàng cắt tóc và quán nước nhỏ của vợ chồng anh sẽ về đâu?

Advertisements

Khu vực phi chính thức – nhìn từ góc độ lao động

Trong các báo cáo kinh tế vĩ mô, ngay sau khi những con số tăng trưởng GDP ấn tượng xuất hiện, như một quy luật, liền sau đó sẽ là những con số hoành tráng về thành tích xuất khẩu, về thu hút đầu tư nước ngoài. Những dòng tin kinh tế trên mặt báo thường ngày cũng không khác là bao, những tập đoàn, công ty lớn luôn tràn ngập mặt báo. Ít người nhận ra rằng, Việt Nam thay da đổi thịt hàng ngày, một phần quan trọng là nhờ vào kinh tế cá thể. Đóng góp này đặc biệt thể hiện rõ trên phương diện tạo việc làm.

Vai chính

Nhìn vào cấu trúc thị trường lao động tại Việt Nam năm 2014(1), trong khi “điểm sáng” về xuất khẩu – khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), hay khu vực được gắn cho vai trò “chủ đạo” – doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chỉ thu hút tương ứng 2 triệu và 1,4 triệu lao động thì nhóm hộ gia đình kinh doanh phi nông nghiệp đang tạo ra 11 triệu việc làm (trong tổng số 52,6 triệu lao động của Việt Nam). Nghĩa là nhóm được gọi là khu vực phi chính thức này tạo ra số lượng việc làm gấp 5 lần doanh nghiệp FDI, gấp 7 lần DNNN – vốn là hai nhóm luôn thu hút sự quan tâm và nhận được ưu đãi nhiều nhất từ Nhà nước.

Quan trọng là vậy, nhưng cũng như cái tên “siêu nhỏ, nhỏ, và vừa” mà chúng được gọi, nhóm này luôn bị thiệt thòi: các chính sách, vốn chưa bao giờ “thân thiện” và “cởi mở’ với nhóm này. Luật Doanh nghiệp 2005 rồi Luật Doanh nghiệp 2014 đều quy định: hộ kinh doanh cá thể sử dụng trên 10 lao động phải chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Lập luận của Nhà nước về lợi ích của việc chuyển đổi có vẻ thật thuyết phục. Đối với người lao động, đó là việc được bảo vệ tốt hơn về quyền lợi. Bởi đồng nghĩa với việc ký hợp đồng lao động chính thức, họ được tiếp cận đầy đủ bảo hiểm xã hội và các phúc lợi khác đi kèm. Làm việc có hợp đồng cũng giúp giảm bớt rủi ro khi xảy ra những tranh chấp về lao động do nhận được sự bảo vệ từ các tổ chức công đoàn. Đối với chủ hộ kinh doanh, một khi trở thành doanh nghiệp, những hứa hẹn lợi ích cũng thật nhiều: có tư cách pháp nhân; được bảo vệ tài sản qua việc chịu trách nhiệm hữu hạn với phần vốn góp và tài sản công ty; chỉ đóng thuế trên phần lợi nhuận thu được; thuận lợi khi chuyển nhượng quyền sở hữu. Đối với Nhà nước, quản lý nhóm chính thức bao giờ cũng dễ dàng hơn nhóm phi chính thức, dù là trong lĩnh vực thuế, môi trường, an toàn hay lao động.

Cần có một chiến lược hỗ trợ lâu dài, tiếp thêm lực đẩy tự nhiên cho quá trình chuyển đổi khu vực phi chính thức thành chính thức chứ không nên là những thúc ép hành chính như hiện nay.

Tuy nhiên, tâm lý “lý tưởng hóa” doanh nghiệp đã khiến các cơ quan nhà nước thúc ép các hộ cá thể phải chuyển đổi bằng biện pháp hành chính hơn là một quá trình chuyển đổi tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của bản thân các hộ. Trong khi đó, các chính sách cơ bản hiện tại đang gây khó hơn là tạo lực đẩy chuyển đổi đến nhóm này.

Nhưng vai yếu

Nhiều chuyên gia cho rằng, các quy định về quan hệ lao động trong khu vực chính thức, gồm thuê mướn, tuyển dụng, sa thải và chấm dứt hợp đồng lao động, đang quá khắt khe và được thiết kế theo hướng nặng về bảo vệ việc làm (hiện có), gây khó khăn nhiều hơn cho người sử dụng lao động (cần lưu ý rằng quy định đang hướng tới bảo vệ việc làm, chứ chưa hẳn là bảo vệ lợi ích cho người lao động). Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OCED), những quy định bảo vệ việc làm này của Việt Nam hiện đang cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn toàn cầu. Theo đó, sau khi Luật Lao động 2014 và Luật Công đoàn 2012 được thông qua, Việt Nam đang nằm trong số những nước có các quy định bảo vệ việc làm khắt khe nhất.

Ở chiều ngược lại, vấn đề đào tạo lao động, một trong những vấn đề khu vực phi chính thức quan tâm nhất, lại không nhận được sự hỗ trợ thích đáng từ Nhà nước. Điểm yếu nhất của khu vực phi chính thức, từ trước đến nay luôn là chất lượng lao động. Những người làm việc trong các hộ cá thể hầu hết là do tự đào tạo, vừa làm vừa học hơn là qua đào tạo nghề ở các trường lớp chính quy. Trong khi đó, lao động có kỹ năng và tính chuyên nghiệp có xu hướng dịch chuyển vào khu vực chính thức, nơi có lương thưởng, điều kiện làm việc và phúc lợi tốt hơn. Với chất lượng lao động như vậy, năng suất lao động trong khu vực này không những không tăng mà còn liên tục giảm trong những năm vừa qua là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, thật khó để yêu cầu các hộ kinh doanh cá thể, cũng như doanh nghiệp nhỏ và vừa tự đầu tư vào việc đào tạo lao động, bởi xác suất mất lao động sau đào tạo là rất cao. Do đó, đào tạo nghề, nhất là đào tạo ngắn hạn, đào tạo gắn với nhu cầu công việc là lĩnh vực mà khu vực cá thể cần nhận được hỗ trợ nhất từ Nhà nước.

Bắt đầu lại

Trên thực tế, đào tạo nghề lại là một trong những khâu yếu kém và thiếu hiệu quả nhất của Việt Nam hiện nay. Sự quan tâm cho đào tạo nghề là có, ngân sách hỗ trợ là lớn, nhưng trong khâu thực thi, các chương trình đào tạo và đối tượng đào tạo gần như tách rời và không phục vụ trực tiếp cho nhu cầu và lợi ích của người sử dụng lao động. Cách tổ chức chương trình, khóa đào tạo như đang thực hiện hiện nay phần lớn chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu “giải ngân cho dự án”, làm lợi cho những trường nghề “thân cận” với những cơ quan ban ngành liên quan, chứ không mang lại nhiều lợi ích cho cả người học nghề lẫn người sử dụng lao động. Thiết kế lại mô hình dạy nghề, trong đó, đặt lợi ích của doanh nghiệp dân doanh vào trung tâm, phục vụ trực tiếp nhu cầu và lợi ích của nhóm này, là yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh hiện nay.

Kinh nghiệm phong phú và những cách làm hiệu quả của thị trường đào tạo ở khu vực tư có thể cung cấp cho việc thiết kế và thực thi các chính sách nhiều bài học hữu ích. Để tăng tính hiệu quả và chất lượng đào tạo nghề của khu vực nhà nước hiện nay, một cơ chế có thể xem xét là đấu thầu và thực hiện theo hợp đồng các dịch vụ đào tạo theo nhu cầu của người sử dụng lao động. Theo đó, các doanh nghiệp tư, cơ sở đào tạo tư tham gia cạnh tranh với khu vực công hiện nay trong các hoạt động đào tạo cho lao động. Nhà nước chi trả các chi phí đào tạo đó cho bên cung cấp dịch vụ đào tạo, miễn là đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, chứ không quan trọng bên cung cấp dịch vụ là công hay tư.

Khu vực phi chính thức, tất nhiên có những điểm yếu cố hữu, đó là tính manh mún và năng suất thấp, là yếu kém trong điều kiện lao động và phúc lợi, nhưng vai trò lớn lao của khu vực này đã được khẳng định. Và với những đặc điểm và bối cảnh Việt Nam, chắc chắn trong thời gian dài sắp tới, khu vực này sẽ vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Do đó, chuyển đổi khu vực phi chính thức thành chính thức, dù là cần thiết, nhưng cần có một chiến lược hỗ trợ lâu dài, tiếp thêm lực đẩy tự nhiên cho quá trình chuyển đổi chứ không nên là những thúc ép hành chính như hiện nay. Để phát triển dài hạn và bền vững, một môi trường vĩ mô ổn định, sự nhất quán về chính sách, môi trường kinh doanh thông thoáng và cạnh tranh, chi phí thủ tục hành chính thấp, quyền sở hữu được đảm bảo, vẫn là những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài nhà nước nói chung.

Bao giờ hết cảnh phát gạo cứu đói người nghèo?

Giữa những ngày giáp tết hối hả, nơi góc ngã tư ken dày người và xe trên đường Trần Hưng Đạo – Phố Huế ở Hà Nội, bất ngờ tôi bắt gặp một xe tải đổ đầy những túi gừng tươi trên lề đường với tấm biểu ngữ in chữ to đập vào mắt: mua gừng của bà con miền núi nhằm ủng hộ bà con đón tết. Gần mười năm trước, lúc còn làm việc cho một tổ chức thiện nguyện quốc tế, tôi từng thực hiện một dự án hỗ trợ cộng đồng người Mông và người Thái ở Kỳ Sơn, Nghệ An phát triển trồng gừng. Nghệ An quê tôi, năm nay tiếp tục là một trong 15 tỉnh ‘xin’ trung ương hỗ trợ gạo cứu đói cho người dân dịp tết. Những ngày giáp tết giữa thủ đô, đi qua xe gừng và tấm biểu ngữ, lòng tôi không khỏi nôn nao những cảm xúc đan xen.

Một năm qua đi, những câu chuyện buồn về người nghèo vẫn chưa thôi day dứt.

 

Tháng 9 năm nay, câu chuyện em học sinh lớp sáu ở Gia Lai tự tử vì mặc cảm nghèo, không có áo mới để đến trường làm nhiều người không khỏi bàng hoàng. Chuyện chưa nguôi, hình ảnh người phụ nữ đã chết được bó chiếu và chở về nhà từ bệnh viện ở Sơn La thêm một khen khiến dư luận xúc động và thương cảm.

Cái chết và thân phận của người nghèo – những người thực sự đang bị bỏ lại phía sau trên con đường phát triển, khiến tôi thực sự băn khoăn nhiều về câu chuyện nghèo đói và công bằng trong tiến trình phát triển ở Việt Nam.

Hơn ba thập kỷ cải cách và phát triển Kinh tế, đất nước đã không còn nằm trong danh sách các nước nghèo, nhưng những nhóm người nghèo vẫn còn đó. Và đáng lo ngại hơn, khoảng cách giữa các nhóm nghèo và nhóm dân cư khác đang ngày càng bị nới rộng hơn.

 

Bất bình đẳng thu nhập nhìn từ những con số

 

Hệ số Ghini – dữ liệu do Ngân Hàng thế giới thu thập, dùng để đo bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia, cho thấy bức tranh về bất bình đẳng ở Việt Nam đã xấu đi trong ba thập niên qua. Tính từ năm 1992, năm chỉ số này bắt đầu được đo đạc đến năm 2012 là năm gần nhất số liệu được công bố, điểm số này đã liên tục tăng thêm – đồng nghĩa với khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư đã mở rộng thêm lên. Nếu năm 1992, Gini là 35.7, năm 2002 là 37.3, và một thập kỷ sau 2012 đã tăng lên 38.7. (GINI càng gần về 0, khoảng cách về thu nhập giữa các nhóm càng nhỏ, và ngược lại, điểm số càng cao, chênh lệch thu nhập càng lớn).

Số liệu từ điều tra mức sống hộ gia đình được thực hiện gần đây nhất của Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2012 cũng cho thấy, khoảng cách thu nhập giữa 20% nhóm thu nhập cao nhất và 20% nhóm thu nhập thấp nhất là gần 10 lần. Một thập kỷ trước đó, năm 2002, chênh lệch thu nhập giữa 2 nhóm là 8 lần. Năm 2017 này, cuộc điều tra mức sống hộ gia đình sẽ được thực hiện. Dữ liệu mới sẽ cho phép tính toán và cập nhật mới hệ số GINI, nhưng tôi nghĩ chắc chắn rằng, hố ngăn cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư sẽ còn tiếp tục nới sâu.

 

Sự gia tăng bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư có thể coi là hiệu ứng phụ không tránh khỏi của tiến trình phát triển kinh tế. Nhưng chính vì lẽ đó, vai trò của Nhà nước trong giảm bất bình đẳng, thúc đẩy phát triển hài hòa càng được lưu ý.  Tuy nhiên, thiết kế chính sách nhằm tái phần phối thu nhập ở Việt Nam, không làm giảm bất bình đẳng, ngược lại đang đào sâu hơn hố ngăn cách này.

 

Ngay từ năm 2007, một báo cáo của Chương trình Phát triển con người của Liên Hiệp Quốc UNDP, thực hiện vào năm 2007, đưa ra một cảnh báo đáng chú ý: “các hộ trong  nhóm 20% có thu nhập cao nhất nhận được gần 40% lợi ích an sinh xã hội. Ngược lại 20% nghèo nhất lại chỉ nhận chưa đến 7%. Điều này có nghĩa là Nhà nước đang trợ cấp cho Người giàu – càng giàu có lại càng nhận được nhiều phúc lợi xã hội từ ngân sách – điều ngược đời so với mọi nguyên tắc về thiết kế và thực thi chính sách công.

Giáo dục, y tế – với rào cản hộ khẩu là ví dụ tiêu biểu về việc cản trở lao động nhập cư từ nông thôn vào thành thị tiếp cận dịch vụ công.  Sự bất hợp lý rất rõ ràng: công nhân, lao động nhập cư – những người thu nhập thấp, con em họ phải đi học ở nhà trẻ tư, trường tư với học phí cao. Trong khi đó, con em nhóm khá giả hơn, có hộ khẩu thì phần lớn học trường công, đồng nghĩa với việc nhận phần hỗ trợ nhiều hơn từ ngân sách nhà nước. Tương tự là chuyện sử dụng điện. Người thuê nhà ở thành phố đóng tiền điện cao hơn các hộ dân đô thị khác dù họ dùng điện ít hơn. Lý do là họ dùng một công tơ chung, và do đó, khi áp dụng thang giá điện lũy tiến, nhóm này phải trả nhiều tiền hơn. Trong khi điện ở Việt Nam đang được trợ giá, nhóm khá giả, như vậy được hưởng lợi kép: được bao cấp nhiều hơn từ giá cả lẫn số lượng điện năng tiêu thụ theo khung tính lũy tiến.

Việt Nam luôn được đánh giá là một trong những nước dành chi tiêu ngân sách lớn cho giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội. Xét về tỷ lệ, con số này còn lớn hơn nhiều so với các nước phát triển cũng như các nước khác trong khu vực. Nhưng tỷ lệ lớn, không đồng nghĩa với việc đảm bảo công bằng. Người dân ở đô thị đang tiếp cận nhiều hơn với hỗ trợ so với nhóm nông thôn. Người Kinh và người Hoa, đang nhận được hỗ trợ lớn hơn so với nhóm dân tộc thiểu số. Nhóm khá giả đang là nhóm hưởng lợi lớn nhất từ an sinh xã hội chứ không phải là nhóm có thu nhập thấp hơn. Chính sách, mục tiêu là hỗ trợ người nghèo nhưng khi thực thi đã biến dạng thành thiên vị người giàu. Khoảng cách bất bình đẳng không thu hẹp mà còn bị đào sâu.

 

Phát triển bao trùm bằng cách nào?

Sau hơn ba thập kỷ đổi mới, không thể phủ nhận, Việt Nam đã đạt được những thành công không nhỏ trong phát triển kinh tế. Nhưng miếng bánh tăng trưởng khó có thể nói đã được phân chia một cách công bằng và hợp lý. Đã đến lúc, phát triển bao trùm cần được chuyển hóa từ các tuyên bố và cam kết thành hành động – chính sách cần phải được tính toán và thiết kế lại để đảm bảo mục tiêu phát triển hài hòa, trong đó tăng trường kinh tế đi liền với công bằng xã hội. GDP tăng thôi chưa đủ – thành quả tăng trưởng phải được phân phối công bằng hơn cho mọi nhóm dân cư.

Ba thập kỷ đổi mới đã cho Việt Nam những tiền đề quan trọng để làm được điều đó. Khu vực tư nhân trong nước đã lớn mạnh và đủ sức đóng vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế. Những dự án thua lỗ ‘nghìn tỷ’ của doanh nghiệp nhà nước càng góp thêm bằng chứng thuyết phục rằng, đã đến lúc Nhà nước cần rút nhanh ra khỏi lĩnh vực kinh tế. Những khoản ngân sách ‘nghìn tỷ’ thay vì ném vào các Vinashin, Vinaline, PVC cần được chuyển sang đầu tư vào an sinh xã hội. Và quan trọng hơn, hệ thống an sinh xã hội được thiết kế lại để ‘thiên vị’ người nghèo chứ không phải tài trợ cho kẻ giàu.

Ba thập kỷ thay đổi cũng đã tạo ra môi trường cho xã hội dân sự phát triển. Nhu cầu và vă hóa làm tự thiện – một kênh tự nguyện để ‘phân phối lại’ của cải và thu nhập của người dân – đã định hình và đang lớn mạnh nhanh chóng. Quan niệm đúng đắn và lành mạnh về một xã hội dân sự, sẽ giải phóng nguồn lực khổng lồ này, – để góp thêm một cánh tay giúp nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội.

Đó chính là những tiền đề thiết yếu nhất cho ‘phát triển bao trùm’ – điều kiện để tạo ra phát triển bền vững và hài hòa xã hội: để những ngày tết không còn cảnh người nghèo chờ gạo cứu đói, để mọi trẻ em đều có áo mới đến trường; để mọi con người – đến lúc chết đi vẫn giữ được phẩm giá tối thiểu của con người.

Để không còn người nghèo bị bỏ lại đằng sau.