Một hình dung Quân đội không làm kinh tế nữa

Những thảo luận công khai và cởi mở xung quanh câu chuyện đất sân golf ở sân bay Tân Sơn Nhất đã gợi mở đến những vấn đề chính sách cốt lõi: đất quốc phòng nói riêng, và chủ trương quân đội có nên làm kinh tế hay không nói chung.

Phát biểu gần đây nhất của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Chiêm được báo chí trích dẫn rằng quân đội sẽ không làm kinh tế để tập trung vào phát triển nền quốc phòng chuyên nghiệp và hiện đại, đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi. Tập trung vào nhiệm vụ cốt lõi – bảo vệ Tổ quốc – không chỉ làm quân đội mạnh lên, khu vực kinh tế dân doanh trong nước rõ ràng cũng được hưởng lợi. Chủ trương trên của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng giải bài toán “dân sự hóa” doanh nghiệp quốc phòng, để một mặt nguồn lực và khối tài sản khổng lồ này phát huy được hiệu quả, đồng thời tránh thất thoát tài sản nhà nước, là vấn đề lớn cần tiếp tục được thảo luận rộng rãi.

Dân sự hóa doanh nghiệp quốc phòng như thế nào?

“Cổ phần hóa” được nhắc đến như là giải pháp để Nhà nước rút khỏi các doanh nghiệp quốc phòng. Định hướng là đúng, nhưng cách làm cần có những điểm đột phá. Trước hết, tiến trình “dân sự hóa” các doanh nghiệp quốc phòng cần tránh đi theo cách làm cổ phần hóa nửa vời, chậm trễ và làm thất thoát tài sản nhà nước như tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang vướng phải. Căn bản nhất, Chính phủ cần xác định dứt khoát rằng, nhóm doanh nghiệp nào cần Nhà nước nắm toàn bộ để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng thì giữ lại như một đơn vị quân đội. Nhóm doanh nghiệp nào không phục vụ nhiệm vụ quân sự thì cần bán lại 100% cho khu vực tư nhân.

Nhóm thứ nhất có thể là các doanh nghiệp đang sản xuất vũ khí và phát triển công nghệ quốc phòng. Với nhóm này, sắp tới không nên gắn chức năng làm kinh tế cho họ mà chỉ yêu cầu tập trung phục vụ nhu cầu quốc phòng. Điều này giúp tránh phát sinh các mâu thuẫn giữa nhiệm vụ chính trị (phục vụ quốc phòng) và nhiệm vụ kinh doanh (theo đuổi lợi nhuận và hiệu quả kinh tế) – vốn là hai nhiệm vụ không thể cùng lúc đáp ứng với một tổ chức nhà nước.

Nhóm còn lại, chiếm số lượng lớn, hiện đang sản xuất, kinh doanh như những đơn vị dân sự. Nhóm này cần bán 100% cho tư nhân, Nhà nước tuyệt đối không nên nắm cổ phần trong đó. Quan trọng hơn, không chỉ doanh nghiệp quốc phòng đang kinh doanh xây dựng, kinh doanh viễn thông, ngân hàng cần tư nhân hóa 100%, mà các doanh nghiệp cung cấp những dịch vụ phi quân sự như quân trang, tư trang cho quân nhân cũng không cần Nhà nước nắm cổ phần. Kinh nghiệm cho thấy, quân đội có thể tổ chức đấu thầu công khai để doanh nghiệp tư nhân cung cấp các dịch vụ, nhu yếu phẩm cho quân nhân, với chi phí rẻ hơn và hiệu quả hơn rất nhiều so với doanh nghiệp quốc phòng.

Trong nhóm thứ hai này, để tiến trình bán tài sản diễn ra nhanh mà không thất thoát, cần phân loại doanh nghiệp thành hai nhóm nhỏ, dựa trên tiêu chí là hiệu quả hoạt động để có phương án xử lý hợp lý. Nhóm một là các doanh nghiệp đang thua lỗ, hoạt động không hiệu quả và khó thu hút tư nhân mua lại. Nhà nước cần kiên quyết giải thể những doanh nghiệp này. Tài sản cố định còn lại có thể bán thanh lý. Riêng đất đai – là tài sản có giá trị lớn nhất, sau khi giải thể doanh nghiệp, Quốc hội cần yêu cầu Bộ Quốc phòng trả lại cho chính quyền địa phương. Hội đồng nhân dân địa phương sẽ quyết định sử dụng đất đai này như thế nào: tiến hành bán đấu giá quyền sử dụng đất và thu tiền về ngân sách địa phương; hoặc sử dụng đất đai đó cho các mục đích xã hội, công cộng phục vụ người dân địa phương.

Cần một nghị quyết hướng dẫn từ Quốc hội

Để làm được điều này, Quốc hội cần có một nghị quyết để xác lập quan điểm và nguyên tắc hướng dẫn cho toàn bộ tiến trình này. Theo đó, nghị quyết có thể xác lập những nội dung chủ yếu:

Thứ nhất, xác lập quan điểm ủng hộ của Quốc hội với việc quân đội không làm kinh tế; và các nguyên tắc, lộ trình cho việc xử lý tài sản nhà nước còn do doanh nghiệp quốc phòng nắm giữ.

Thứ hai, Quốc hội cần yêu cầu Chính phủ tiến hành kiểm toán, đánh giá lại toàn bộ tài sản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng. Quan trọng nhất trong hoạt động này là rà soát và tổng kiểm kê lại quỹ đất mà các doanh nghiệp này đang nắm giữ.

Thứ ba, hướng dẫn Chính phủ xử lý tài sản nhà nước trong doanh nghiệp quốc phòng thông qua tư nhân hóa và bán tài sản theo các nguyên tắc thảo luận như trên.

Chấm dứt vai trò làm kinh tế của lực lượng quốc phòng là chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Song song với chấm dứt vai trò kinh tế của doanh nghiệp quốc phòng, cũng cần tiến tới chấm dứt vai trò làm kinh tế của lực lượng an ninh. Giải được bài toán xử lý tài sản của doanh nghiệp quốc phòng cũng chính là tìm được lời giải cho bài toán hoàn toàn tương tự với doanh nghiệp của lực lượng an ninh. Hy vọng rằng, Quốc hội, trong không khí thảo luận cởi mở và minh bạch như hiện nay, sẽ tiếp tục đánh giá và tiếp thu các khuyến nghị hợp lý nhằm thực hiện tốt chủ trương xác đáng này.

Hợp pháp hóa kinh doanh cá cược: Cần tiên liệu những hệ quả kinh tế-xã hội

Một khung pháp lý tốt cho kinh doanh cá cược không đồng nghĩa với những thách thức đã được giải quyết.

Với việc dự thảo nghị định về kinh doanh đặt cược cho ba hình thức đua ngựa, đua chó và bóng đá quốc tế đang được gấp rút hoàn thiện, một trong những vấn đề chính sách gây tranh cãi nhất đã được thừa nhận và đưa vào khuôn khổ điều chỉnh của pháp luật.

Khách quan mà nói, hình thành một khung pháp lý chính thức cho các hoạt động cá cược là hướng đi đúng và cần thiết phải làm. Dù cá cược là xu thế không mong muốn – không một chính phủ nào khuyến khích công dân mình cá cược – nhưng đó là một nhu cầu thực tế của một bộ phận người dân, một hoạt động kinh tế mà nếu đặt nó ngoài khuôn khổ pháp luật, Nhà nước không chỉ thất thu một khoản thuế khổng lồ, một bộ phận người dân sẽ bị đặt trước những rủi ro ngầm ẩn và toàn xã hội cũng có nguy cơ gánh những hệ lụy không nhỏ. Bởi thế, sự ra đời của nghị định này là đáng hoan nghênh.

Dường như đón đầu việc hợp thức hóa các hoạt động cá cược này, làn sóng phát triển nóng loại hình kinh doanh cá cược đã lộ diện. Trải dài từ Bắc đến Nam, một loạt dự án đang được khởi động. Ở Hà Nội, Tổng công ty Du lịch Hà Nội và Công ty Global Consultant Network Co.Ltd của Hàn Quốc vừa thỏa thuận thành lập liên doanh xây dựng tổ hợp giải trí, trong đó có trường đua ngựa ở Sóc Sơn. Ở miền Trung, Phú Yên đã cấp giấy chứng nhận đầu tư dự án trường đua ngựa Phú Yên cho Công ty Golden Turf Club Pty Ltd trên diện tích hơn 134 héc ta. Ở phía Nam, Công ty Du lịch Đại Nam cũng đang lên kế hoạch xây dựng trường đua Đại Nam trên diện tích đất 60-70 héc ta.

Sự phát triển “nóng” của hoạt động kinh doanh cá cược có thể tiềm ẩn những bất lợi cho nền kinh tế nói chung, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế – xã hội rất đặc thù của Việt Nam.

Thứ nhất, dòng vốn đầu tư thay vì chảy vào những lĩnh vực sản xuất thực – yếu tố tạo nên nền tảng phát triển bền vững, có thể dịch chuyển sang lĩnh vực có thể tạo ra lợi nhuận cao và nhanh như kinh doanh cá cược. Điều này đã từng xảy ra trong quá khứ, khi dòng vốn ồ ạt chảy vào bất động sản và đầu tư tài chính – và để lại những hệ quả nghiêm trọng cho nền kinh tế đến tận ngày nay. Hơn thế nữa, xu hướng này càng đặc biệt đáng lo ngại ở Việt Nam, nơi mà tham nhũng luôn là vấn đề nghiêm trọng. Nguồn tiền phi pháp từ tham nhũng hoàn toàn có thể chảy vào những dự án dạng này – trở thành một phương thức “rửa tiền” hợp pháp để biến “tiền bẩn” thành “tiền sạch”.

Hợp thức hóa kinh doanh cá cược là bước đi cần thiết. Nhưng tiên liệu những hệ quả kinh tế – xã hội, từ đó có đối sách hợp lý tiếp tục là bài toán đang đặt ra cho các cơ quan xây dựng và thực thi chính sách hiện nay.

Thứ hai, các dự án trường đua thường sử dụng quỹ đất lớn, tiềm ẩn nguy cơ gây thêm căng thẳng cho quá trình chuyển đổi đất đai hiện nay. Các địa điểm giải trí thường không thể xây dựng quá xa khu trung tâm. Mặt khác, ai cũng biết không doanh nghiệp nào chỉ đơn thuần xây dựng trường đua mà không phát triển các dịch vụ bất động sản đi kèm với nó. Trong khi đó, vùng ven các đô thị thường là đất nông nghiệp, với diện tích nhỏ và thuộc về một số lượng lớn các chủ sở hữu cá thể.

Quá trình thương lượng giữa các doanh nghiệp và các chủ đất đơn lẻ, về mặt pháp lý phải được thực hiện theo tiến trình dân sự giữa hai bên. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp, để lấy được đất nhanh hơn, cũng như với chi phí thấp hơn, thường bắt tay với chính quyền địa phương để chính quyền đứng ra thu hồi đất. Việc sử dụng quyền lực hành chính thường dẫn đến thua thiệt cho người dân. Hiếm khi giá trị đất đai được đền bù thỏa đáng theo giá thị trường và trên cơ sở thỏa thuận bình đẳng, minh bạch. Đây là nguồn cơn của phần lớn những vụ kiện cáo phức tạp về đất đai, gây ra những căng thẳng giữa người dân với chính quyền, người dân với doanh nghiệp như đã thấy trong suốt thời gian qua.

Tất nhiên, những nguy cơ dạng này phổ biến với mọi hoạt động kinh tế cần đến đất đai; tuy nhiên với xu hướng gia tăng đáng quan ngại của các mối quan hệ thân hữu ở giữa doanh nghiệp và chính quyền, giữa quan chức và các doanh nghiệp sân sau, cũng như đặc điểm dòng tiền phi pháp từ tham nhũng nói trên, vấn đề đất đai cho các trường đua và dịch vụ đi kèm sẽ càng thêm nghiêm trọng. Hơn thế nữa, bởi những hệ lụy xã hội khác, các trường đua nếu được cho phép mở tràn lan, còn ngầm ẩn nhiều vấn đề hơn cả các sân golf – vấn đề mà Việt Nam trước đây từng vất vả giải quyết.

Với những lý do nêu trên, các cơ quan quản lý cần tiếp tục thận trọng trong việc giám sát sự phát triển của các loại hình kinh doanh cá cược, đặc biệt là các trường đua. Hai giải pháp chính sách cần được cân nhắc để sử dụng.

Thứ nhất, các công cụ kinh tế như thuế cần được áp dụng chặt chẽ. Thuế cao đánh vào các loại hình kinh doanh cá cược sẽ khiến các doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng khi tiến hành kinh doanh. Thuế cao gián tiếp sẽ tác động đến người chơi, qua đó trở thành biện pháp hạn chế một cách hợp pháp những người cá cược.

Thứ hai, với vấn đề đất đai, quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa doanh nghiệp và người dân cần được nghiêm túc thực hiện theo pháp luật. Chính quyền địa phương cần tuyệt đối tránh việc đứng ra thay mặt doanh nghiệp thu hồi đất từ người dân. Bản thân việc doanh nghiệp phải thương lượng trực tiếp với người dân theo giá thị trường; và chi phí gia tăng hợp lý từ quá trình này cũng là một vấn đề khiến các doanh nghiệp cần cân nhắc khi quyết định đầu tư.

Có thể nói, kinh doanh cá cược là các hoạt động kinh tế, dù Nhà nước khuyến khích hay không, bản thân nó vẫn sẽ tồn tại. Vì thế, hợp thức hóa kinh doanh cá cược là bước đi cần thiết. Nhưng tiên liệu những hệ quả kinh tế và xã hội, từ đó có đối sách hợp lý tiếp tục là bài toán đang đặt ra cho các cơ quan xây dựng và thực thi chính sách hiện nay.

Bỏ hạn điền và nguy cơ doanh nghiệp ‘cá mập’ thâu tóm đất đai

* Bài đã đăng trên Tuổi trẻ Cuối tuần

Trong các cuộc khảo sát thực địa về phát triển nông nghiệp gần đây, sự bế tắc của người nông dân, của chính quyền địa phương trong làm nông nghiệp là điều chúng tôi được chia sẻ nhiều nhất. Vấn đề thì rất rõ: ruộng đất manh mún, canh tác thủ công, sử dụng phân bón và hóa chất nông nghiệp tràn lan, bài toán đầu ra cho nông sản. Và lời giải cũng đã bắt đầu được chính quyền, từ trung ương đến địa phương nhìn thấy: thu hút Doanh nghiệp tham gia vào nông nghiệp. Bởi chỉ khi doanh nghiệp tham gia một cách bài bản vào thị trường nông nghiệp, công nghệ canh tác mới thay đổi; an toàn nông sản mới được đảm bảo, và bài toán giá trị sản phẩm cũng như đầu ra được giải quyết tốt hơn. Và để doanh nghiệp có thể tham gia, một nút thắt quan trọng đang được tìm cách tháo gỡ: bỏ hạn điền để cho phép tích tụ đất đai. Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng trong bảo vệ quyền lợi của người nông dân khi gỡ bỏ hạn điền lại đang ít được đề cập – đó là xử lý vấn đề quyền thu hồi đất của các cơ quan hành chính vì mục đích phát triển kinh tế xã hội. Với thực tiễn hiện nay, nếu bỏ hạn điền mà không đóng lại quyền hồi đất đất của cơ quan hành chính, quyền lợi của rất nhiều người nông dân có đất hiện nay sẽ đứng trước rủi ro bị xâm phạm.

Từ rủi ro cho người sử dụng đất nhỏ lẻ

Cách đây hơn một năm, trong chuyến thực địa ở một tỉnh Bắc miền Trung, chúng tôi được địa phương giới thiệu đến khảo sát một dự án nông nghiệp được coi như điển hình cho việc thu hút doanh nghiệp tham gia vào thị trường nông nghiệp ở địa phương. Dự án nuôi bò thịt của một doanh nghiệp lớn thực hiện ở một huyện nghèo của tỉnh. Nhưng khi chúng tôi tiếp xúc thực tế với người dân, quá trình chính quyền địa phương thu hồi đất của người dân để chuyển giao cho doanh sử dụng thực sự khiến chúng tôi quan ngại.

Ngoài một phần diện tích đất vốn lấy từ nông trường quốc doanh cũ chuyển sang cho doanh nghiệp, phần lớn diện tích còn lại mà doanh nghiệp muốn sử dụng được dịa phương lấy từ đất sản xuất lâm nghiệp đang canh tác của người dân. Quá trình thu hồi – chuyển giao này diễn ra không hề suôn sẻ. Phần đất đó người dân đang trồng cây keo, kết hợp với sản xuất cây nông nghiệp ngắn ngày. Theo tính toán cũng như thực tế kinh doanh của người dân, sau khoảng sáu năm trồng và chăm sóc, họ có thể bán được một lứa keo. Số tiền thu được sau hai vụ như vậy (tức khoảng 12 đến 15 năm) sẽ tương đương với số tiền mà địa phương đang muốn bồi thường cho người dân. Trong khi đó, thời hạn giao đất lâm nghiệp cho người dân thông thường kéo dài 50 năm. Người dân cho biết, họ đã hoàn thành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang đợi chính quyền thực hiện. Như vậy, nếu việc thu hồi và chuyển giao đất theo phương án mà chính quyền yêu cầu, phần thiệt rất lớn rõ ràng thuộc về người dân.

Tìm hiểu sâu hơn, chúng tôi được biết, doanh nghiệp thực sự không làm việc trực tiếp với người dân địa phương để mua lại quyền sử dụng đất. Thông qua chính quyền cấp tỉnh, doanh nghiệp lập dự án và xin phê duyệt đầu tư. Và khi được tỉnh phê duyệt, chính quyền cấp huyện là người đứng ra thu hồi đất theo chủ trương thu hồi vì mục đích phát triển kinh tế xã hội. Sau đó, khi việc thu hồi hoàn tất, đất sẽ  được giao lại cho doanh nghiệp thuê.

Cách làm như vậy không những khiến người dân địa phương đang có đất và canh tác trên đất không hài lòng, mà còn đặt chính quyền địa phương cấp huyện và cấp xã ở vào thế kẹt. Một mặt, họ chịu sức ép từ tỉnh giao phải thu hồi bằng được được đất để chuyển sang cho doanh nghiệp. Một mặt, người dân địa phương quyết liệt phản đối vì giá trị đền bù quyền sử dụng đất đó không phản ánh đúng giá trị thị trường. Một mặt, người dân bị ép buộc phải trả lại đất cho chính quyền với giá trị đền bù không tương xứng. Một mặt khác, thời gian thu hồi ngắn khiến họ hoàn toàn lúng túng trong việc chuyển đổi sinh kế.

Thời điểm chúng tôi khảo sát ở địa phương này, sau rất nhiều cuộc họp giữa người dân địa phương và ban tổ công tác đền bù giải phóng mặt bằng, một thỏa thuận cuối cùng vẫn chưa được thống nhất. Nhưng những căng thẳng trên thực tế đã nảy sinh. Doanh nghiệp khiến người dân bất bình, vì làm hàng rào phong tỏa, chỉ chừa lối đi nhỏ vào những khoảng đất của người dân còn xen kẹt trong phần đất họ đã nhận bàn giao. Ngược lại, khi bò từ vùng sản xuất của doanh nghiệp đi sổng vào đất của người dân, người dân giết thịt thay vì trả lại tài sản cho doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp xã với người dân cũng căng thẳng, bởi lẽ người dân cho rằng chính quyền đang tiếp tay cho doanh nghiệp lấy đất một cách bất công.

Đến rủi ro cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Không chỉ người nông dân sở hữu đất nông lâm nghiệp nhỏ lẻ, bản thân các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khi đầu tư vào nông nghiệp cũng bị đặt trong những rủi ro tương tự. Cũng tại một tỉnh bắc Miền Trung khác, chúng tôi ghi nhận trực tiếp câu chuyện một doanh nghiệp đã đầu tư làm rau an toàn nhiều năm nay, đang đối mặt với nguy cơ bị tỉnh thu hồi đất để làm khu công nghiệp. Khu đất rộng hơn 3 hecta của doanh nghiệp này ở vùng ven thành phố, vốn được anh mua và thuê gom từ các hộ gia đình trồng lúa đã bỏ canh tác. Trên diện tích đất tích tụ được, anh đã đầu tư nhà lưới và máy móc để sản xuất rau an toàn từ vài năm nay. Tuy nhiên, gần đây, tỉnh đã quy hoạch vùng này trở thành khu công nghiệp. Trong khi ở thời điểm mua lại quyền sử dụng đất của chủ đất cũ, anh mua với giá thị trường; thì giá bồi thường mà chính quyền địa phương áp vào để đền bù cho anh thấp hơn rất nhiều so với giá trị trường tại thời điểm hiện tại, (và thậm chí còn thấp hơn cả số tiền mà anh bỏ ra để mua đất trước đây).

Đến rủi ro chịu thiệt hại khi bị thu hồi đất 

Luật Đất đai năm 2013, dù làm rõ hơn các trường hợp thu hồi đất nhằm mục đích phát triển kinh tế – xã hội nhưng phạm vi quy định vẫn là quá rộng. Khoản 3c của điều 62, trao cho cơ quan hành chính nhà nước quyền lấy lại đất của người dân trong một loạt các lĩnh vực: từ thực hiện Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, một khi mở cánh cửa hạn điền mà không đóng lại cánh cửa ‘thu hồi đất’, một loạt các kịch bản xấu có thể xảy ra.

Thứ nhất, doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp thân hữu, sẽ tìm cách vận động chính quyền tỉnh, lập dự án nông nghiệp, và mượn ‘bàn tay’ nhà nước để đứng ra thu hồi đất. Kịch bản như câu chuyện ‘doanh nghiệp nuôi bò thịt’ kể trên sẽ lặp lại. Cách làm này vừa nhanh chóng cho doanh nghiệp; lại giúp họ giảm được đáng kể chi phí bởi không phải mua lại đất từ chủ sử dụng hiện tại theo giá thị trường.

Hệ quả thứ và thứ 3 cũng là một phần xuất phát hệ quả của điều thứ nhất. Đó là, doanh nghiệp thân hữu sẽ mượn tay chính quyền thu hồi đất với giá rẻ thông qua vỏ bọc là đầu tư dự án nông nghiệp, sau đó sẽ tìm cách chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất thương mại và nhà ở. Với văn hóa tham nhũng, việc quy hoạch không minh bạch và tình trạng tuân thủ quy hoạch kém như hiện nay, không khó để doanh nghiệp ‘phù phép’ chuyển đất nông nghiệp sang đất thương mại. Nói cách khác, bỏ hạn điền mà không ngăn chính quyền địa phương thu hồi đất sẽ mở toang cánh cửa cho các doanh nghiệp thân hữu cá mập lấy đất một cách ‘hợp pháp’ và đẩy thiệt thòi sang người nông dân và gánh nặng cho chính quyền địa phương.

Hơn thế nữa, một hệ quả không tích cực khác, đó là doanh nghiệp thân hữu có thể dùng nhà nước để lấy đất giá rẻ, và sau đó, bán trao tay lại cho các doanh nghiệp khác thực sự có nhu cầu làm nông nghiệp. Cách kinh doanh ‘quan hệ’ một cách ‘siêu lợi nhuận’ này hoàn toàn có thể xảy ra, nhờ tận dụng chính sách ‘Chính quyền’ được thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội. Đó là tiến trình đầu cơ đất giá rẻ dựa vào quan hệ thân hữu với người, cơ quan quyền lực nhà nước, trong lúc đó người có nhu cầu đất thực lại mất đi cơ hội tiếp cận đất đai theo cơ chế thị trường.

Trên thực tế, những kịch bản đó đều đã xảy ra. Việc thu hồi đất thông qua sử dụng quyền lực hành chính  dẫn đến thua thiệt cho người dân bởi hiếm khi quyền sử dụng đất được đền bù thỏa đáng theo giá thị trường. Trong khi đó, các doanh nghiệp lấy được đất theo tiến trình này là những người hưởng lợi nhiều nhất. Ví dụ dễ thấy nhất là các doanh nghiệp bất động sản. Ngay sau khi nhận đất từ chính quyền, một động tác tác phân lô bán nền trên giấy thôi đã thu về siêu lợi nhuận. Hệ quả trực tiếp không thể tránh khỏi của tiến trình đó là xung đột giữa một bên là số lượng lớn những người bị ép buộc thu hồi đất với giá trị thấp với một bên là chính quyền và các doanh nghiệp. Những vụ việc như ở Văn Giang (Hưng Yên), Dương Nội (Hà Nội) phản ánh rõ rệt thực trạng này.

Bỏ hạn điền, cần cấm chính quyền thu hồi đất vì mục đích kinh tế

Chủ trương bỏ hạn điền là đúng đắn. Nhưng như đã phân tích, tiến trình sửa luật đất đai để bỏ hạn điền cần đi song song với việc không cho phép chính quyền địa phương được phép thu hồi đất vì mục đích kinh tế. Mọi doanh nghiệp, cá nhân khi có nhu cầu tích tụ ruộng đất cần phải tự thỏa thuận theo con đường dân sự với chủ sử dụng đất hiện hành để chuyển nhượng. Việc phải mua với giá thị trường, những khó khăn khi mua đất sẽ khiến doanh nghiệp thận trọng và có ý thức với mảnh đất mình mua. Khi đó, chỉ những người có mục đích kinh doanh thật sự mới mua đất, hạn chế được đầu cơ đất nông nghiệp. Doanh nghiệp vừa và nhỏ, những người thực sự có thể thay đổi nông nghiệp và nông thôn cũng sẽ có thể được tiếp cận và được bảo vệ trong tiến trình đó. Hơn thế nữa, tiến trình chuyển nhượng đất đai lành mạnh theo con đường thị trường cũng là tiến trình tốt nhất bảo vệ lợi ích chính đáng cho những người nông dân hiện đang là chủ của những mảnh đất nhỏ lẻ.

Đất đai là luôn là lĩnh vực nóng, nguồn cơn của những khiếu kiện, căng thẳng và xung đột xã hội khó giải quyết nhất nhất trong vài thập niên gần đây. Những nhà làm luật, khi sửa luật đất đai, cần hết sức thận trọng – nếu không ngòi nổ đất đai như Văn Giang, Dương Nội hay Tiên Lãng hoàn toàn có nguy cơ xảy ra trên diện rộng và gây ra những hệ quả xã hội nghiêm trọng.