Quy hoạch ngành – vì sao bộ, ngành “nghiện” quản?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), trong phiên trình bày dự thảo Luật Quy hoạch trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội gần đây đã nêu đích danh Bộ Xây dựng đã nhất quyết không buông quy hoạch xây dựng ra khỏi các loại quy hoạch cần phải loại bỏ.

Những tranh cãi của hai bộ này hé lộ rào cản ít được đề cập trong môi trường kinh doanh hiện nay: hàng ngàn bản quy hoạch ngành đang được sử dụng như một hình thức can thiệp hành chính vào thị trường mà đằng sau đó là miếng bánh lợi ích riêng của các cơ quan “quản lý nhà nước” – miếng bánh lợi ích từ ngân sách và miếng bánh từ sự xin – cho.

“Xin – cho” quy hoạch

Một doanh nghiệp kinh doanh chế biến và xuất khẩu nước ép hoa quả từng phân tích kỹ càng cho người viết những tổn thất kinh doanh mà họ phải bỏ ra vì “quy hoạch ngành”. Doanh nghiệp này đã sản xuất và xuất khẩu nước ép trái cây nhiều năm nay. Thời điểm gần đây, nhận thấy chanh leo là một thế mạnh có thể tạo ra nhiều lợi nhuận, trong khi dứa, mặt hàng chủ chốt của họ đang bị cạnh tranh và suy giảm, doanh nghiệp muốn chuyển sang xuất khẩu mặt hàng này. Tuy nhiên, quy hoạch vùng nguyên liệu trong khu vực họ hoạt động không có cây chanh leo. Thế nên, để được trồng cây nguyên liệu mới đó, họ phải mất hơn một năm trời để xin điều chỉnh, bổ sung “quy hoạch”. Một năm trời, chưa nói tới chi phí làm thủ tục, những cơ hội kinh doanh mất đi đủ khiến doanh nghiệp nản lòng.

Ma trận quy hoạch ngành

Quy hoạch vùng trồng dứa, vùng trồng chanh leo như vậy chỉ là một trong hơn 19.000 (bản) quy hoạch khác nhau đang có giá trị thi hành, theo như báo cáo của Bộ KH&ĐT. Con số khổng lồ đó bao gồm đủ thể loại quy hoạch, từ quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch không gian lãnh thổ, quy hoạch ngành sản xuất… Trong khi vai trò của một số loại quy hoạch được xác định là cần thiết thì vai trò của quy hoạch ngành đang là dấu hỏi.

Con số chi tiết cho mỗi loại không được nêu ra, nhưng trong tổng số 19.000 (bản) quy hoạch ấy, các kiểu quy hoạch ngành có lẽ chiếm đa số. Nông nghiệp có quy hoạch vùng nguyên liệu, quy hoạch vùng sản xuất: quy hoạch mía, quy hoạch chè, quy hoạch cà phê, quy hoạch tôm, quy hoạch cá tra, cá ba sa… Trong công nghiệp là quy hoạch ngành than, ngành thép, ngành xi măng… Thậm chí đến cả việc sản xuất và tiêu thụ rượu bia cũng được đưa vào “quy hoạch”!

Hàng ngàn bản quy hoạch ngành đang được sử dụng như một hình thức can thiệp hành chính vào thị trường mà đằng sau đó là miếng bánh lợi ích riêng của các cơ quan quản lý nhà nước – miếng bánh lợi ích từ ngân sách và miếng bánh từ sự xin – cho.

Không khó để nhận thấy, trên lãnh thổ Việt Nam, khó có thứ gì có thoát khỏi “quy hoạch” – khó có loại cây, con, mặt hàng nào nằm ngoài “sự quản lý của nhà nước”.

Lý lẽ phổ biến nhất được đưa ra để làm quy hoạch là nhằm dự báo và định hướng sự phát triển của thị trường, giúp thị trường phát triển hài hòa và cân đối được cung – cầu. Chẳng hạn, trong nông nghiệp, là tránh được việc doanh nghiệp và người dân sản xuất quá nhiều, giảm đi chuyện “được mùa, mất giá”. Mục đích của quy hoạch được biện hộ rất tốt đẹp – bảo vệ lợi ích người sản xuất.

Thế nhưng, trên thực tế, sản xuất hiếm khi nào đi theo “quy hoạch’’. Vấn đề không phải chỉ là do năng lực dự báo và làm quy hoạch yếu kém. Điều quan trọng nhất là doanh nghiệp, người dân hoạt động theo “tín hiệu” cung – cầu của thị trường. Khi thị trường thiếu hụt, họ sẽ sản xuất thêm và ngược lại, giảm quy mô khi thị trường dư thừa. Năng lực phân tích, dự báo thị trường là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành bại kinh doanh của người làm kinh tế – chứ không phải định hướng của người làm quy hoạch. Việc một loạt quy hoạch nông nghiệp thường xuyên “bị phá vỡ” là ví dụ rõ ràng nhất cho thấy, thị trường không thể bị “điều hành” bởi ý chí của cơ quan quản lý hành chính thông qua “quy hoạch”. Điều này càng hợp lý hơn trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu với thế giới, thị trường hàng hóa ở Việt Nam cơ bản đã trở thành mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Vì sao bộ, ngành “nghiện” quy hoạch?

Trong khi quản lý bằng “quy hoạch ngành” đã được chứng minh, bằng cả lý luận lẫn thực tế, là cách thức can thiệp thiếu hiệu quả của Nhà nước vào nền kinh tế thì các bộ, ngành vẫn tiếp tục miệt mài “làm quy hoạch”.

Mới đây nhất, giữa tháng 9, Bộ Công Thương vừa ban hành quy hoạch phát triển ngành bia, rượu, nước giải khát. Trong khi đó, Bộ Xây dựng kiên trì với lập luận “quy hoạch xây dựng” là công cụ quản lý hiệu quả và không thể thiếu để đảm bảo “trật tự, kỷ cương” trong lĩnh vực xây dựng.

Vì sao cơ quan quản lý thích quy hoạch? Câu trả lời rất rõ ràng: “làm quy hoạch” vừa có tiền từ ngân sách, vừa có “lợi ích” nhờ quyền được cấp phép quy hoạch.

Để vẽ được hơn 19.000 quy hoạch nói trên, các bộ, ngành nhận được hơn 8.000 tỉ đồng từ ngân sách nhà nước, theo như thống kê của Bộ KH&ĐT. Tuy nhiên, Bộ KH&ĐT nhận xét chất lượng của các bản quy hoạch ngành là rất thấp và hiếm khi có giá trị trong thực tế.

Đơn cử một ví dụ về quy hoạch ngành than của Bộ Công Thương. Báo cáo của Tổng cục Hải quan cho thấy tám tháng đầu năm, Việt Nam đã nhập về gần 10 triệu tấn than. Con số này cao gấp 3 lần dự báo của Bộ Công Thương đưa ra hồi đầu năm. Là dự báo ngắn hạn trong vòng một năm, trong điều kiện thị trường, cũng như nền kinh tế không có biến động phức tạp, sai số như vậy là quá lớn. Trong khi đó, quy hoạch ngành than sẽ phải dự báo trên cơ sở cung – cầu của thị trường. Dự báo ngắn hạn còn sai, dự báo dài hạn thì xác suất chính xác cao đến mức nào? Đó có lẽ là lý do khiến cho một loạt quy hoạch của ngành này, từ năng lượng, đến xi măng, sắt thép liên tục bị lạc hậu và liên tục phải xin điều chỉnh.

Lợi ích “ngân sách” đã vậy, lợi ích thực tế của các bộ ngành từ việc “xin – cho” quy hoạch còn lớn hơn rất nhiều. Mọi doanh nghiệp, như công ty sản xuất nước ép trái cây vừa kể trên, muốn “vào” được quy hoạch, hay “thay đổi quy hoạch” đều phải mất các chi phí không chính thức cho cơ quan cấp phép. Các dự án quy mô càng lớn, đồng nghĩa với thẩm quyền phê duyệt càng ở cấp cao hơn, “chi phí” để “xin” càng nhiều.

Trong một số lĩnh vực, khi số lượng “dự án” đã được cấp phép đủ với quy hoạch, những doanh nghiệp đến sau, nếu không đủ “quan hệ” để xin được điều chỉnh quy hoạch, còn phải “mua lại” giấy phép của người đi trước. Một thị trường ngầm – không chính thức – sinh ra để đáp ứng các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước, mà người thiệt hại là doanh nghiệp, còn bên hưởng lợi, không ai khác là các bộ, ngành và cơ quan liên quan.

Chấm dứt can thiệp bằng quy hoạch nhằm cải thiện môi trường kinh doanh

Cải cách môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được xác định là ưu tiên cao nhất trong nghị trình hành động của Chính phủ mới.

Tuy nhiên, những thách thức của Chính phủ không chỉ đến từ bên ngoài, mà cơ bản và khó khăn nhất đến ngay từ trong bộ máy hành chính của mình. Trở ngại cho việc xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng và minh bạch bắt nguồn từ lợi ích riêng của bộ, ngành là rất lớn, không chỉ có riêng giấy “giấy phép con” mà còn là hàng chục ngàn các quy hoạch và thủ tục đi kèm như vừa phân tích ở trên. Bệnh “nghiện quản”, tư duy “lo hộ, nghĩ hộ” của các cơ quan nhà nước không phải ngẫu nhiên bùng phát như trong thời gian qua.

Do đó, từ Quốc hội và Chính phủ, việc tư duy lại một cách hợp lý vai trò Nhà nước và thị trường, từ đó xác định ranh giới Nhà nước và thị trường nên được xem là kim chỉ nam định hướng cho cải cách môi trường kinh doanh hiện nay. Thu hẹp mảnh đất “trục lợi” của giấy phép con, của “quy hoạch” cần dựa trên các nguyên tắc phân định vai trò này.

Dự thảo Luật Quy hoạch, được Bộ KH&ĐT dự thảo, đang đi đúng hướng, là cơ hội lớn để xác định các “toa thuốc” hợp lý trị tận gốc các căn bệnh nêu trên.

Chính phủ “kiến tạo phát triển’ và phép thử “Hoa Sen”

Chính phủ và những câu hỏi từ Hoa Sen

Vụ việc Tập đoàn Hoa sen đề xuất kế hoạch xây dựng tổ hợp sản xuất thép ở Cà Ná, Ninh Thuận – ngay giữa thời điểm mà thảm họa môi trường gây ra bởi Formosa vẫn còn chưa được giải quyết xong – đã trở thành tâm điểm của dư luận. Trong khi người dân và nhiều chuyên gia bày tỏ quan ngại về rủi ro môi trường, chính quyền Ninh Thuận lại thể hiện sự ủng hộ tuyệt đối dành cho Hoa Sen, thông qua việc đề xuất một loạt ưu đãi ‘khủng’ cho dự án này. “Bóng’ giờ đang nằm trong chân Chính phủ. Nhưng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng cho số phận dự án, một loạt vấn đề chính phủ cần cân nhắc.

Thứ nhất là hiệu quả kinh tế và khả năng tạo việc làm. Một tiêu chí đúng đắn mà chính phủ đưa ra cho việc đánh giá các dự án gần đây là số lượng việc làm mà dự án tạo ra. Với dự án này, Hoa Sen hứa hẹn rằng dự án hoàn thành sẽ tạo ra 45.000 lao động cho địa phương. Xét từ góc độ tỉnh Ninh Thuận, đó là một con số hấp dẫn. Nhưng chính phủ, với tư cách phục vụ lợi ích quốc gia, còn cần nhìn cả khả năng tạo việc làm của cả ngành và lan tỏa ra toàn nền kinh tế, chứ không phải là một dự án riêng biệt. Ở khía cạnh này, các nghiên cứu kinh tế đều cho thấy rằng, thép không phải là ngành tạo ra ảnh hưởng lan tỏa cao đến nền kinh tế và việc làm. Do vậy thay vì dùng ưu đãi từ nguồn lực công (cụ thể ở đây là ưu đãi thông qua đất đai, nước, điện được trợ giá) cho Hoa Sen nói riêng, và ngành thép nói chung, liệu có nên dùng ưu đãi cho các ngành sản xuất khác có thể tạo ra nhiều việc làm lớn là ngành thép?

Thứ hai là hai là những hứa hẹn về khoản thuế Hoa Sen có thể đóng góp cho ngân sách địa phương. Cần phải có những tính toán kỹ lưỡng hơn về lập luận này. Bởi ngay chính Hoa Sen tiết lộ, mục tiêu lâu dài của dự án là xuất khẩu thép chứ không chỉ là giới hạn trong thị trường trong nước. Vậy một loạt ưu đãi rất lớn từ phía Nhà nước – từ các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như trợ cấp năng lượng (điện) nước, vốn vay ưu đãi. Cần phải xem xét đến khả năng Hoa Sen có bị kiện bán chống phá giá khi xuất khẩu không. Sản phẩm thép trung quốc đang bị kiện chống bán phá giá ở nhiều nước. Nếu Hoa Sen rơi vào hoàn cảnh tương tự; khả năng lợi nhuận, cũng như rủi ro thua lỗ của Hoa Sen thế nào ? Bởi nếu không có lợi nhuận thì lấy đâu ra tiền để Hoa Sen đóng thuế thu nhập Doanh nghiệp. Vì thế, khả năng về lâu dài Hoa Sen có thể góp phần tăng nguồn thu từ thuế cho địa phương vẫn cần được tính toán kỹ lưỡng hơn.

Thứ ba, bài toán kinh tế của Hoa Sen cần đặt được trong bối cảnh phát triển chung của toàn vùng – đặc biệt là xét trên tương quan thế mạnh du lịch biển của vùng này. Chi phí và lợi ích giữa Thép và Du lịch cần được tính toán tổng thể, không chỉ riêng cho Ninh Thuận mà cần xem xét cả Khánh Hòa và Bình Thuận, Vũng Tàu.

Thứ 4 là yếu tố công khai mình bạch trong việc thu hút và ưu đãi đầu tư. Chính phủ mới đã tuyên bố rất rõ ràng và nhất quán về việc xây dựng môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch. Vì vậy, dù có chấp thuận hay không chấp thuận dự án của Hoa Sen, quá trình đánh giá và phê duyệt này cần được thông tin đầy đủ và minh bạch đến người dân và doanh nghiệp khác. Cần nêu rõ được vì lý do gì Hoa Sen được chọn? Có sự cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác không, hay Hoa Sen là nhà đầu tư duy nhất? Câu chuyện các doanh nghiệp lớn, bắt tay, thậm chí là ‘đi đêm’ với các cơ quan quyết định chính sách – hay ‘chủ nghĩa thân hữu’ như cách gọi của giới chuyên gia – vốn đã trở thành vấn nạn nhức nhối của 2 nhiệm kỳ chính phủ trước. Do đó, nếu không minh bạch trong câu chuyện Hoa Sen – niềm tin vào chính phủ mới có nguy cơ tiếp tục bị xói mòn.

Và cuối cùng, cũng là vấn đề quan trọng nhất: quan ngại về vấn đề môi trường,  không chỉ cho riêng Ninh Thuận mà là toàn bộ khu vực Nam Trung Bộ. Vấn đề này, có lẽ không cần phân tích thêm, bởi bài học từ Formosa với toàn bộ khu vực Bắc Miền Trung đã là quá rõ ràng. Xét về cơ sở khoa học, chuyên gia Vũ Quang Việt đưa ra một phân tích đáng chú ý: nếu đưa chi phí về môi trường vào dự án thì hầu các doanh nghiệp thép khó có lãi. Còn nếu doanh nghiệp thép có lãi chắc chắn môi trường bị hủy hoại[1]. Nếu chọn Thép, chỉ Hoa Sen có lãi, và tỉnh Ninh Thuận có ‘thành tích’ – còn chi phí cao hơn nhiều, sẽ chia đều và đổ lên đầu toàn bộ người dân.

 

Hoa Sen và mục tiêu phát triển bền vững của Chính phủ

Vượt ra ngoài những vấn đề kỹ thuật nêu trên, Hoa Sen thực sự là một phép thử với chính phủ mới. Bởi qua cách Chính phủ xử lý bài toán Hoa Sen, người dân và doanh nghiệp sẽ có cơ hội kiểm chứng trên thực tế việc thực thi các tuyên bố và cam kết cải cách mà chính phủ đã nhiều lần đưa ra.

Xét từ góc độ chính quyền địa phương, việc Ninh Thuận đề xuất những ưu đãi khủng dành cho Hoa Sen là có thể hiểu được. Sức ‘cám dỗ’ của lời hứa hẹn về hàng chục nghìn việc làm; hàng chục nghìn tỷ thu ngân sách, con số tăng trưởng GDP vùng cao hơn hàng chục ‘tỉnh bạn’ thì thật khó mà cưỡng lại được với một tỉnh nghèo như Ninh Thuận – điều cũng từng xảy ra với Hà Tĩnh trong câu chuyện Formosa. Nhưng đứng ở góc độ Quốc gia, Chính phủ cần dũng cảm nói không với GDP ‘bẩn’ – đúng như cam kết ‘không đánh đổi tăng trưởng lấy môi trường’ của cá nhân Thủ tướng.

Cá nhân tôi cho rằng, Chính phủ, ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ đã lựa chọn đúng đắn – cải cách môi trường kinh doanh và phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước. Môi trường kinh doanh thông thoáng và minh bạch là yếu tố quan trọng hàng đầu để phát triển doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế,  chứ không phải là những ưu đãi về đất đai, vốn, hay tài nguyên. Nói không với những ‘dự án tỷ đô’ đầy cám dỗ và cũng đầy rủi ro ô nhiễm đồng nghĩa với việc chấp nhận GDP sẽ tụt giảm trong ngắn hạn. Nhưng lợi ích mang lại bởi sự lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp, bởi phát triển bền vững sẽ lớn lao hơn nhiều trong dài hạn.

Tôi tin rằng, người dân và doanh nghiệp chắc chắn đủ sáng suốt để ủng hộ chỉnh phủ lùi một bước trong cái gọi là ‘thành tích tăng trưởng’ để tiến những bước dài hơn trên con đường phát triển về sau.

[1] http://www.thesaigontimes.vn/149047/Thi-truong-thep-va-Formosa.html

 

Chính sách và bằng chứng

Những ngày đầu năm, trong lúc tranh luận xung quanh thông tin sắp tới xe máy khi lưu thông phải bật đèn định vị vào ban ngày chưa lắng xuống, thì một quy định khác, cũng liên quan đến an toàn giao thông, là bắt buộc trong ô tô phải có bình cứu hỏa, lại khiến người dân lao xao.

Chưa nói đến công tác truyền thông về chính sách mới quá kém, khiến người dân phải nháo nhào đi mua bình cứu hỏa vào giờ chót, bản thân tính hiệu quả của chính sách này trong việc giảm thiệt hại cháy nổ cũng không thuyết phục được công luận.

Những chính sách kiểu này mới chỉ là phần nổi của “tảng băng chìm” đáng báo động về công tác xây dựng chính sách của các cơ quan nhà nước hiện nay.

Xây dựng chính sách – bằng chứng hay cảm tính?

Có quá nhiều quy định chính sách mà khi được công bố, đến người dân bình thường nhất cũng “không thể hiểu nổi” chúng được ban hành dựa trên căn cứ nào. Ví dụ, ngành giao thông vận tải có “tiền sử” khiến dư luận sửng sốt với những đề xuất như ngực lép thì không được lái xe; phạt người lái xe đội mũ bảo hiểm kém chất lượng. Ngành y tế một dạo định phạt người nào ăn bẩn nhân danh đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đó mới chỉ là những đề xuất, khi được thông tin trên phương tiện truyền thông đã bị công luận chỉ trích, phải dừng việc triển khai. Còn quá nhiều quy định khác vừa ban hành ra đã phải thu hồi, ban hành nhưng không thực hiện được, thực hiện nhưng không mang lại hiệu quả mà chỉ những người trong cuộc, trong lĩnh vực hiểu hết.

Một hệ quả lớn của việc ban hành ra các “chính sách tào lao” mà dường như các cơ quan nhà nước đang cố tình coi nhẹ – đó là sự xói mòn niềm tin của người dân vào chính sách và cơ quan công quyền.

Trong rất nhiều trường hợp, đơn cử như hai quy định và ý định mang tính thời sự dẫn ở phía trên, hai “căn cứ” thường được viện dẫn. Một là kinh nghiệm nước ngoài – các nước tiên tiến người ta làm rồi, mình cần phải “học hỏi”. Và hai là từ “tổng kết kinh nghiệm” trong nước, từ những thống kê không mấy tin cậy, những lập luận thiếu thuyết phục từ các vụ việc đơn lẻ trong nước. Hiếm có trường hợp nào chính sách được đưa ra dựa trên các nghiên cứu và bằng chứng khoa học; có các đánh giá đầy đủ về tác động chính sách đến các nhóm đối tượng, thực hiện nghiêm túc các phân tích chi phí/lợi ích của các lựa chọn chính sách; và cân nhắc kỹ càng tính khả thi trên thực tiễn. Có thể nói, trong công tác xây dựng chính sách hiện nay, không chỉ quy trình ban hành có vấn đề, năng lực kỹ thuật về nghiên cứu, phân tích và phát triển chính sách của các cơ quan có thẩm quyền cũng là điều rất đáng lo ngại.

Động cơ ban hành chính sách – vì lợi ích công hay phục vụ nhóm trục lợi?

Không hiếm chính sách được ban hành ra, người ta thấy đằng sau có bóng dáng của việc “cài cắm” những quy định mang lại lợi ích trực tiếp cho một nhóm đối tượng nào đó, trong khi chi phí chính sách chia đều cho toàn xã hội. Trường hợp các bộ, ngành “giành” nhau quyền “quản lý nhà nước”, quyền được ra quy định cho thấy động cơ trục lợi chính sách.

Cũng do mục đích chính sách không phải vì lợi ích của số đông người dân, các công cụ chính sách được lựa chọn có chủ ý, nghiêng nặng về các biện pháp mang tính trợ cấp, hỗ trợ trực tiếp bằng ngân sách; hoặc điều chỉnh bằng quy định mang tính cưỡng chế hành chính. Trong khi đó, các công cụ thị trường, hoặc các chương trình thuyết phục, truyền thông, vận động hiếm khi được ưu tiên. Không nói đâu xa, vẫn tiếp tục trường hợp buộc phải có bình cứu hỏa trong ô ô ở trên, ngay khi quy định được ban hành, đại diện cơ quan đề xuất chính sách đã phải giải thích với báo chí việc có hay không chuyện bắt tay giữa cơ quan với doanh nghiệp. Nhưng lời giải thích này khó mà thuyết phục được được số đông người dân.

Chính sách dựa vào bằng chứng – một giải pháp về kỹ thuật

Phương pháp tiếp cận chính sách dựa vào bằng chứng (evidence-based policy) là một giải pháp mang tính kỹ thuật nếu được áp dụng có thể góp phần hạn chế những yếu kém của những chính sách loại này. Theo đó, ban hành chính sách phải dựa trên việc sử dụng các bằng chứng khoa học, có thể tính toán, phân tích, chứng minh được một cách thuyết phục tính hiệu quả và tính khả thi trên thực tế. Nói một cách đơn giản, trong quá trình làm chính sách, bằng chứng từ nghiên cứu được đặt lên hàng đầu, chứ không phải là những lập luận mơ hồ và cảm tính.

Ví dụ phổ biến cho hướng tiếp cận này là kỹ thuật xây dựng các can thiệp chính sách; các chương trình dựa vào hiệu quả thực tế của các can thiệp chính sách đã được kiểm chứng.

Kỹ thuật mới này, vốn bắt nguồn từ phương pháp nghiên cứu y học – “Thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát” (Randomised control trial – RTC) được phát triển và từng bước được áp dụng rộng rãi vào lĩnh vực chính sách công. Trong ngành y, các phương pháp điều trị hay một loại dược phẩm mới trước khi áp dụng trên diện rộng, đều cần đi qua một quy trình chặt chẽ, trong đó có việc thử nghiệm trên một nhóm đối tượng đồng thời so sánh với một nhóm khác không được thử nghiệm có cùng đặc điểm. Sau một chu kỳ can thiệp, việc đánh giá sẽ cho phép nhận biết hiệu quả của phương pháp điều trị mới.

Theo cơ chế tương tự, chính sách, trên nhiều phương diện, là những “toa thuốc” – “phác đồ điều trị” từ phía “bác sỹ” nhà nước để giải quyết các vấn đề – các “căn bệnh” của xã hội. Các can thiệp chính sách – để biết có tác dụng “chữa bệnh” hay không, cần được thử nghiệm trên một “nhóm đối tượng mẫu” đồng thời so sánh với một nhóm khác mà không chịu sự điều chỉnh/can thiệp của chính sách đó. Chỉ đến khi đảm bảo các can thiệp đó hiệu quả, khi đó mới đưa được đưa vào quy trình xem xét để áp dụng trên quy mô toàn xã hội.

Tiếp cận chính sách dựa vào bằng chứng, ví dụ như RTC, đang dần trở thành một xu hướng, một giải pháp kỹ thuật, một mặt giúp giảm bớt các “tác động chính trị” hoặc “động cơ trục lợi” lên chính sách, mặt khác, đảm bảo chất lượng chính sách được nâng cao hơn.

Chất lượng chính sách, chi phí thực thi và “tính chính đáng” của Nhà nước

Một hệ quả lớn của việc ban hành ra các “chính sách tào lao” mà dường như các cơ quan nhà nước đang cố tình coi nhẹ – đó là sự xói mòn niềm tin của người dân vào chính sách và cơ quan công quyền. Một khi người dân có niềm tin, việc thực thi chính sách trên thực tế sẽ dễ dàng và tốn kém ít chi phí để thực hiện. Ngược lại, quá nhiều chính sách “trời ơi đất hỡi”, chính sách “trục lợi” được làm ra, niềm tin của người dân sẽ dần bị xói mòn. Đến lúc đó, Nhà nước bị đẩy vào thế bắt buộc phải sử dụng nhiều hơn bộ máy, chi phí ngân sách, và cả gia tăng sử dụng các công cụ mang tính cưỡng chế để đảm bảo chính sách được thực thi. Đó là vòng xoáy nguy hiểm: chính sách dở – mất niềm tin – lạm dụng các công cụ mang tính cưỡng chế – mất niềm tin nhiều hơn, mà chúng ta đang chứng kiến hiện nay

  • Bài đã đăng Thời báo KTSG http://www.thesaigontimes.vn/141058/Chinh-sach-va-bang-chung.html